QĐND Online - Ông đã có một thời hào hùng trong dạn dầy khói lửa, trong cam go sinh tử và khi thời máu lửa đã lùi vào dĩ vãng ông vẫn tự cho mình đang là lính chiến. Chiến binh ấy là Nguyễn Thành Lập, còn “chiến trường” của ông đang lăn lộn trong thời bình là Hội Cựu chiến binh tỉnh Lai Châu.
 |
|
Cựu chiến binh Nguyễn Thành Lập vẫn đau đáu tìm hướng đi thoát nghèo cho đồng đội.
|
Những bức huyết thư
Sinh ra trong thời chiến (1953) trên quê hương Vĩnh Phúc anh hùng, ngay từ nhỏ, những mẩu chuyện về tình hình chiến sự mà người lớn kể lại đã làm sục sôi dòng máu anh hùng trong cậu bé Nguyễn Thành Lập. Khi đi học, lúc đi chơi, hễ ở đâu có sách báo về tình hình chiến sự, ở đâu nói chuyện chiến tranh là cậu bé Lập gầy nhẳng, đen trũi lại tìm đến để nghe. Rồi những trò trận giả, kéo quân, ngụy trang, tập kích… chẳng có trò nào mà lũ trẻ trong xóm thời ấy thấy vắng bóng Lập.
Lớn lên, khi nhận thức đã hình thành, chàng thanh niên Thành Lập cũng chỉ có một chí hướng là ra chiến trường, cống hiến tuổi xuân cho Tổ quốc. Được học hành tử tế, có năng lực lãnh đạo, tuyên truyền, vận động mọi người nên Thành Lập được tín nhiệm giao làm thư ký đội sản xuất ở địa phương. Đang trong “tầm ngắm” trở thành cán bộ chủ chốt của địa phương, mặc dù khi đó gia đình đã có 2 anh trai (trong 6 anh em trai) đang trong quân đội nhưng Thành Lập vẫn kiên quyết xin nhập ngũ. Gia đình, địa phương thuyết phục cũng không thay đổi được nhiệt huyết đang sục sôi trong anh. Bị xã đội từ chối, Thành Lập trích máu của mình viết một bức thư tình nguyện nhập ngũ gửi lên Huyện đội – lần thứ nhất bị từ chối. Lý tưởng sống, máu anh hùng thôi thúc Lập làm đơn lần thứ hai (cũng bằng máu). Vẫn chưa được chấp nhận, anh tiếp tục trích máu viết đơn lần thứ 3, lần này sự nhiệt tình của anh được đền đáp. Mùa thu năm 1971, người dân xã Xuân Lôi, Bình Xuyên (Vĩnh Phúc) bịn rịn chia tay một thanh niên ưu tú lên đường bảo vệ xóm làng, bảo vệ quê hương. Rời cổng làng, trăm nỗi tơ lòng nhưng anh tự nhủ: “Đã đi cứu nước thì giặc tan mới về” và một mình đi bộ từ nhà lên Huyện đội (vì đợt đó cả xã chỉ có một mình anh nhập ngũ bổ sung).
Dầm trong bom đạn
3 tháng huấn luyện chiến sĩ mới, ròng rã, hàng tuần hành quân bộ từ đất Việt đến đất Lào dường như đã đủ thời gian để Thành Lập hiểu về hai từ “đời lính”. Có trình độ, thông minh, gan dạ và dũng cảm nên chiến sỹ Lập được cấp trên giao cho nhiệm vụ làm chiễn sĩ thông tin. Nghe người ta bảo lính thông tin chỉ chạy, Lập ấm ức lắm. Tưởng được cầm súng xung phong ra trận chứ lại làm anh lính thông tin thì chán lắm! Quân lệnh như sơn, âu sầu vác máy, cầm dây cùng một bụng hậm hực cho rằng số mình không được ra chiến trường. Thế nhưng ngay trận đầu Thành Lập đã nhận ra đã là lính chiến thì vất vả, nguy hiểm như nhau và cũng quan trọng, vinh quang chẳng kém.
Năm 1972, trong trận Phu Khé (Lào) Thành Lập được cấp trên giao nhiệm vụ giữ liên lạc giữa trung đoàn và tiểu đoàn. Mưa bom, bão đạn ầm ầm, cuộc chiến đang khốc liệt thì mất liên lạc. Qua kinh nghiệm đường dây cho biết đoạn đứt không quá xa, vậy là Lập cùng một đồng chí ôm súng, lần theo đường dây tìm nơi bị đứt để khắc phục. Khi Lập đang nối dây, thử máy chợt thấy có gì là lạ, giữa chiến trường mà dường như tiếng súng im bặt, rồi chợt anh thấy mặt mày tối tăm, một tiếng nổ giòn không khốc, cát bụi, đất đá đổ ập vào người – một quả bom tọa độ nổ cách nơi anh đang nối dây có chục bước chân. Ê ẩm toàn thân, Lập tiếp tục đứng nối dây kệ cho những quả bom tiếp theo cứ nổ quanh mình. Đường dây đã thông, Lập mới thấy tanh tanh, mằn mặn, khi đó mới biết đầu mình bị mảnh bom phạt mất ít da!
“Đấy là trận đầu tiên và cũng là lần đầu bị thương. Lúc đội mũ chạy ra giữa trận địa, đứng giữa hai làn đạn giao tranh mới thấy sinh mạng mình chỉ được đặt trong thần may rủi! Sau đấy những cảnh thương vong, máu chảy, bom rơi hay nhìn đồng chí mình bị thương đã không còn xa lạ và mình coi như đó là chuyện thường của lính”, ông Lập chia sẻ.
Lần nguy hiểm thứ hai mà đến giờ ông cựu chiến binh này vẫn không thể quên là trận tiến vào giải phóng miền Nam. Hôm đó, ông đang cùng đồng đội đi trinh sát để kéo đường dây liên lạc ở Đồng Dù (Củ Chi). Khi đến vị trí, đang làm nhiệm vụ thì một đám tàn quân của địch thua trận rút chạy về qua đó. Đi tới đâu chúng vãi đạn tới đó. Cấp trên ra lệnh đảm bảo bí mật không được đánh trả. Giữa đồng không, chẳng một gốc cây, tảng đá, ông và đồng đội đã nghĩ tới hoàn cảnh tồi tệ nhất. Đạn réo rin rít quanh mình, địch đang ngày một gần… Thật may gần đó có một cái giếng, Thành Lập nhảy ngay xuống đó. “Nói thật chết thì không sợ mà lúc đứng dưới giếng thấy ớn thế. Cả “sư đoàn nhái” như ở đấy phục sẵn. Những con nhái lạnh như chui từ địa phủ lên bò khắp bụng, khắp cổ, chui cả vào nách, đến lạnh cả sống lưng. Nhưng lệnh trên đã quyết, không được leo lên, không được chiến đấu làm lộ bí mật!” – ông Lập nhớ lại. Trận đó ta thắng giòn giã một phần cũng bởi đường dây thông tin thông suốt và bí mật quân sự được bảo vệ.
Cuộc chiến giữa thời bình
Miền Nam giải phóng, nước nhà liền một dải. Thượng sĩ Nguyễn Thành Lập lại được cấp trên cử lên Lai Châu đóng quân để vừa làm kinh tế vừa làm nhiệm vụ quốc phòng. Sau 5 năm trận mạc, năm 1976 ông ra quân và đi học, sau đó giữ các vị trí quan trọng trong chính quyền của huyện Phong Thổ (cũ). Đến năm 2005 ông trở về với màu áo lính thân yêu ở Hội Cựu chiến binh tỉnh nhưng lúc này trên một mặt trận khác. “Lúc chiến đấu đâu có ai nghĩ đến chuyện sống, còn nhưng khi chăm lo đời sống anh em thì mình thật sự đau đầu về chuyện đó”, ông Lập bóp trán tâm sự.
Trên cương vị mới ông luôn tự xác định cho mình việc tìm hướng đi để làm sao những cựu chiến binh và gia đình họ thoát nghèo, con cái họ được học hành, có việc làm ổn định. Chiến trường ngày trước tuy cam go khốc liệt nhưng lại không đến nỗi gian nan như chiến trường này. Tỉnh hội có hơn 8 nghìn hội viên mà trong đó có khoảng 6% số hộ vẫn thuộc diện đói nghèo (theo chuẩn cũ) là một thách thức không nhỏ. “Cái lô cốt đói nghèo thì không có bom mìn hữu hình nào phá ngay được. Dũng cảm, gan dạ thôi không đủ, phải thông minh, nhạy bén, quyết đoán tấn công mới thắng được. Vấn đề là mình giúp được cho bao nhiêu đồng đội chiến thắng? Cuộc chiến này còn cam go lắm!”, ông Lập trầm ngâm.
Bài, ảnh: Khánh Kiên