QĐND - Vốn là sĩ quan pháo binh có kinh nghiệm đưa pháo lên cao bắn thẳng vào đồn địch chi viện cho bộ binh tiến công nên năm 1965 tôi được điều vào nhận nhiệm vụ tại mặt trận Tây Nguyên. Cứ ngỡ ở vùng núi rừng heo hút này chẳng có ai quen biết. Nào ngờ tại đây tôi gặp lại người đồng đội mà suốt đời không thể quên.

Trong Chiến dịch Plei-me, Bộ tư lệnh tiền phương Mặt trận Tây Nguyên lệnh cho Trung đoàn 66 tổ chức Tiểu đoàn 7, tập kích cụm cứ điểm quân Mỹ ở bãi tia X lần thứ hai. Đúng 2 giờ 30 phút ngày 16-11, súng cối bắn liên tục 21 quả đạn vào mục tiêu, tiếp đó bộ binh đồng loạt xung phong. Chỉ trong vòng 10 phút đầu, Đại đội 1 do Đại đội trưởng Lê Triệu chỉ huy đã chiếm trận địa cối của địch, phá hủy 3 khẩu cối 81mm rồi phát triển chiến đấu ở cụm 2. Đại đội 3 đánh địch ở cụm 2 mặc dù bị lạc nhưng đã tìm về hướng có tiếng súng tạo thành mũi vu hồi bất ngờ... Hai trận tập kích liên tiếp, Tiểu đoàn 7 đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 200 tên địch, bắn rơi 6 máy bay lên thẳng, trong đó có chiếc chở tên Đại tá Brao - Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 Mỹ. Địch thú nhận bị chết 79 tên, bị thương 128 tên và mất gần hai phần ba sĩ quan... Ta thu 72 khẩu súng, 22 máy vô tuyến, phá hủy 3 khẩu cối 81mm... Ý nghĩa của trận đánh được Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên khẳng định: "Hai trận tập kích liên tiếp của Tiểu đoàn 7 đã quyết định dứt khoát thế bị động hoàn toàn của quân Mỹ về mặt chiến thuật buộc chúng phải rút lui có tính chất tháo chạy... Tiểu đoàn 7 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ".

Thiếu tướng Tô Thuận (ngoài cùng bên trái) cùng các cựu chiến binh thăm và chúc mừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Ảnh: PB

Thoạt nghe cái tên Lê Triệu, Đại đội trưởng Đại đội 1, tôi cứ ngờ ngợ. Phải chăng Lê Triệu 20 năm trước là chiến sĩ Đại đội 20, Trung đoàn 41? Hóa ra đúng thật. Quá bất ngờ, ngày nào cùng chiến đấu trên mặt trận Đường số 5 Hải Dương, anh em gắn bó bên nhau, bây giờ lại cùng có mặt ở Tây Nguyên...

Đầu năm 1947, khi giặc Pháp đánh chiếm thị xã Hải Dương, tôi ở Đại đội 18 đánh địch tại khu vực nghĩa địa Đồng Thiện, Kiến An (Hải Phòng), sau chuyển dần sang Hải Dương nhập vào Đại đội 11. Ít lâu sau, trung đội tôi chuyển về Đại đội 20 đóng quân ở làng Vạc, huyện Bình Giang. Ở đây, tôi gặp Lê Triệu, anh là liên lạc đại đội, tôi là Tiểu đội trưởng ở Trung đội 3. Sau khi quân Pháp chiếm được Trại Con Gái, thị xã Hải Dương, chúng bắt đầu đưa quân mở đường số 5 và đường sắt nối với Hà Nội. Hai lần đánh vào cầu Thịnh Vạn và nhà thờ Kẻ Sặt, quân Pháp đều bị LLVT Hải Dương chặn đánh quyết liệt nên không vào được.

Tiết trời còn giá lạnh nhưng không khí chiến tranh thì sục sôi như lửa đốt, quân - dân đua nhau đào đường, đắp luỹ, rào làng. Trung đội 3 nhận lệnh bố trí tại Cống Tranh, cách Kẻ Sặt 4km. Cấp trên nhận định: Nhà thờ và làng Kẻ Sặt là mục tiêu đầu tiên đánh chiếm, vì thế ta phải triệt để thực hiện "vườn không, nhà trống", nhân dân làng Kẻ Sặt một mặt chuẩn bị cho người già yếu, trẻ em tản cư, chỉ để lại lực lượng chiến đấu, một mặt lo cất giấu lương thực, canh gác tuần tra phát hiện địch... Tết Đinh Hợi đến, nhưng theo lệnh của chỉ huy trưởng Đặng Tính thì việc sẵn sàng chiến đấu không thể lơ là. Đêm mồng Một Tết, ông lệnh cho Đại đội 20 hành quân tăng cường cho làng Kẻ Sặt. Trung đội 3 chúng tôi chuyển về Châu Khê. Tiểu đội tôi cùng chỉ huy Trung đội bố trí ở Cống Tranh.

Ngày 15-3-1947, trời vừa rạng đông thì cũng là lúc giặc Pháp tiến công vào cầu Thịnh Vạn và làng Kẻ Sặt. Chúng đặt pháo từ đường 5 bắn mạnh vào làng và nhà thờ. Xe tăng gầm rú dữ dội... Quân ta từ các hướng đánh trả quyết liệt. Nhưng lực lượng địch đông gấp nhiều lần, quân ta vũ khí có hạn, vì vậy, sau mấy giờ chiến đấu thì có lệnh rút lui để bảo toàn lực lượng.

Bọn địch vào cướp phá Kẻ Sặt, bắt dân đi phu xây bốt ở cầu Thịnh Vạn... Ngay đêm đó, lực lượng ta trở lại chiếm giữ chốt cũ trong Kẻ Sặt. Đến 11 giờ hôm sau, quân địch từ cầu Thịnh Vạn tiến công vào Kẻ Sặt. Quân ta lợi dụng địa hình bắn chết 2 tên lính Pháp khiến chúng phải bỏ xác đồng bọn tháo chạy... Đến 14 giờ, địch cay cú mở lại trận tiến công. Trận đánh diễn ra căng thẳng... Ta bám đất, bám dân, bám địch chiến đấu mấy ngày liên tục, sau đó để lại Trung đội Hồng Vũ của Hải Dương đồng thời điều 1 tiểu đội quyết tử lên tháp chuông nhà thờ Kẻ Sặt cùng lực lượng du kích giữ làng. Từ đó ta bắt đầu đánh trả địch nhiều trận gay go. Đặc biệt là trận đánh địch chiếm tháp chuông nhà thờ Kẻ Sặt. Sau một ngày chiến đấu mà không làm gì được lực lượng trên tháp chuông, địch dùng thuốc lào đốt dưới cầu thang hun khói lực lượng ta. Đến chiều tối, lực lượng ta thương vong nhiều nên địch leo lên được tháp chuông. Rất dã man, chúng lột hết quần áo của các đồng chí hy sinh và bị thương rồi lấy dây buộc ngang người quẳng xuống sân cột đồng hồ tháp chuông, sau đó rút quân về cầu Thịnh Vạn.

Đêm hôm ấy, anh Triệu truyền lệnh của Đại đội trưởng Nguyễn Khoáng xuống cho Trung đội 3, tiểu đội tôi được giao cùng địa phương làm nhiệm vụ chôn cất tử sĩ. Gần sáng công việc mới xong, chúng tôi về tới Cống Tranh thì trời đã sáng rõ. Tôi nhận ra anh Lê Triệu, thân hình nhỏ nhắn, bước đi nhanh nhẹn, nét mặt hiền hậu. Hỏi ra mới biết anh cùng quê Mao Điền rất quen địa hình nên được đại đội trưởng tin tưởng thường xuyên giao nhiệm vụ bất kể ngày đêm, lúc yên tĩnh cũng như khi chiến sự ác liệt.

Có lần sau trận giặc càn vào làng Châu Khê, Chính trị viên Thảo, Lê Triệu cùng tôi... nhận lệnh vào làng nắm tình hình. Tới ven làng chúng tôi đã thấy mấy ngôi nhà bị đốt. Đường vào nhà cụ Cả Thưởng vườn rộng, nhiều cây, anh Lê Triệu cứ đi băng băng. Tới cây khế to ở giữa vườn, Lê Triệu nhặt được khẩu súng lục "côl bát" của giặc đánh rơi khi bỏ chạy, anh kiểm tra cẩn thận rồi trao cho đồng chí Thảo - Chính trị viên... Những lúc ấy, tôi thấy Lê Triệu tháo vát, nhanh nhẹn khác thường.

Một lần Trung đội 3 cơ động từ Kẻ Sặt đến chùa Hồ Liễu thì gặp địch, đồng chí Nho - Tiểu đội trưởng hy sinh nhưng chưa rõ thi thể ở đâu. Tiểu đội tôi được lệnh đi tìm. Tôi, Lê Triệu và cô Nhung - y tá của đại đội cùng 2 chiến sĩ đi ngay từ chập tối. Vòng đi vòng lại mấy xóm phía tây nam làng Châu Khê mà không thấy, chúng tôi vào chùa Hồ Liễu thì phát hiện thi thể Tiểu đội tưởng Nho. Đưa thi thể anh ra cánh đồng chôn cất xong, chúng tôi trở lại Cống Tranh nghỉ ngơi, còn một mình anh Lê Triệu lặn lội trong đêm tối về đại đội báo cáo. Trước khi đi anh Triệu cứ xuýt xoa: "May quá, tìm thấy thi thể anh Nho nếu không thì chẳng biết báo cáo đại đội thế nào...".

Giữa năm 1947, giặc Pháp chiếm được Quán Gỏi trên đường số 5, cửa ngõ phía bắc vào cầu Thịnh Vạn, nhà thờ và làng Kẻ Sặt. Nhận "mật lệnh" của Khu trưởng Chiến khu 3 Hoàng Minh Thảo, huyện Bình Giang được giao tổ chức một trận hỏa công. Các bó rơm rạ được chuẩn bị bí mật sẵn sàng khi có lệnh lập tức tập kết xung quanh Quán Gỏi. Theo kế hoạch, sau khi nghe 8 phát đạn pháo 75mm nổ, lập tức du kích đưa 300 gánh rơm rạ vào đốt đồn Quán Gỏi. Lửa sáng rực cả vùng trời. Hàng rào tre xung quanh đồn cháy sạch. Địch lúng túng không bắn ra được. Đại đội 20 là chủ công trong trận này, Lê Triệu truyền lệnh của Đại đội xuống các trung đội cứ chạy đi chạy lại liên tục... Do ta không có bộc phá và mìn để phá lô cốt, không có súng máy để kiềm chế các lỗ châu mai nên bộ binh ta không tiếp cận được. Gần sáng thì có lệnh rút quân... Trận đánh không thành công nhưng với tôi hình ảnh chiến sĩ liên lạc Lê Triệu chạy qua chạy lại truyền mệnh lệnh trong ánh lửa đốt đồn cứ in sâu mãi.

Một lần, Đại đội trưởng Nguyễn Khoáng giao nhiệm vụ cho tôi và Lê Triệu phải điều tra xác định vị trí đứng gác của tên lính Pháp trên cầu Thịnh Vạn - Kẻ Sặt. Chúng tôi lấy 4 khúc cây chuối dài khoảng 50cm ghép lại thành cái khung vuông làm phao để tôi chui đầu vào, choàng cánh tay ra hai bên, trên đầu phủ kín bèo tây chỉ hở hai con mắt để quan sát vị trí tên địch đứng gác trên cầu và thả cho trôi theo dòng nước. Lê Triệu có nhiệm vụ tìm cách lần xuống phía dưới bờ sông phía bên kia cầu để đón và nghe tôi thông báo kết quả quan sát để về báo cáo lại với Đại đội trưởng. Lê Triệu cứ băn khoăn lo cho tôi. Tôi bảo: "Không sợ, Đại đội trưởng đã phân công cho anh em ta rồi, cứ thế làm đi". Và chúng tôi làm tròn nhiệm vụ.

Một lần khác, khi mặt trời sắp lặn, Lê Triệu đến gặp tôi trao lệnh của Đại đội trưởng nhiệm vụ phục kích cài mìn đánh xe cơ giới địch trên đường số 5. Lê Triệu là người dẫn đường. Sau khi chôn xong số mìn nhận về, tiểu đội được Lê Triệu dẫn sang phía nam đường trước làng Mao Điền chờ đợi, ở lại nơi phục kích để cho mìn nổ chỉ còn một mình tôi. Lê Triệu muốn ở lại cùng tôi nhưng Đại đội phó không đồng ý.

Để giữ hai đầu dây chờ khi xe địch tới vị trí đã đánh dấu thì chập điện cho nổ mìn, tôi phải ngâm mình dưới ruộng lúa đầy nước từ 8 giờ. Đến gần 10 giờ, xe quân sự địch mới xuất hiện và nhiệm vụ nổ mìn được tôi thực thi thành công. Xe trúng mìn bốc cháy, bọn địch hoảng loạn bắn vài loạt vu vơ rồi tháo chạy... Mừng chiến thắng, tôi chẳng để ý gì đến thân thể mình cứ thế chạy về Mao Điền. Vừa thấy tôi, Lê Triệu đã hốt hoảng kêu lên: "Trời ơi, đỉa bám đầy người anh kìa!"... Anh em trong tiểu đội vội xúm lại gỡ đỉa cho tôi. Lê Triệu đếm được 43 con tất cả. Thật là rùng rợn. Cuối năm ấy, tôi được bổ nhiệm Trung đội phó rồi chuyển sang Đại đội 74, Trung đoàn 64 và chúng tôi xa nhau từ đó...

Hai mươi năm cách biệt mới lại gặp nhau. Gặp lại đã vui rồi, thấy nhau trưởng thành càng vui hơn. Anh Triệu ở bộ binh, tôi ở pháo binh cùng lập nên chiến công mà lịch sử Binh đoàn Tây Nguyên đã ghi nhận. Đồng chí Lê Triệu, người chiến sĩ liên lạc nhanh nhẹn, tháo vát, dũng cảm của Đại đội 20 thời đánh Pháp, giờ đã là Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 66 chống Mỹ ở Tây Nguyên. Nỗi niềm tâm sự biết nói sao cho hết... Sau 30-4-1975, anh Lê Triệu về công tác tại Cục Huấn luyện chiến đấu (Bộ TTM), tôi đi học về làm công tác ở Bộ tư lệnh Pháo binh, thế là có dịp lại gần nhau. Ôn lại chuyện đánh Tây ngày đầu ở Bình Giang, chuyện đánh Mỹ ở Tây Nguyên... Thật thú vị.

Những tưởng hòa bình chẳng còn bom đạn, bạn bè sẽ bên nhau mãi. Vậy mà đột nhiên nghe tin anh lâm bệnh... Khi tôi viết những trang này thì Đại tá Lê Triệu không còn nữa. Anh đã về cõi vĩnh hằng. Gia quyến, Cục Quân huấn, bạn chiến đấu Trung đoàn 42, Trung đoàn 66... đưa anh về Mao Điền chiến trường xưa và cũng là quê hương yêu dấu để anh yên nghỉ. Vậy là tôi đã mất anh - một người bạn chiến đấu "chí cốt" trong cả đánh Pháp ở Mao Điền, đánh Mỹ ở Tây Nguyên và đời thường.

Thiếu tướng Tô Thuận, Nguyên Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Binh chủng Pháo binh