QĐND Online - Từ đầu năm 1964, Mỹ trang bị cho hải quân ngụy loại tàu PTF (tàu tuần tiễu tốc độ nhanh) có trọng tải 64-67 tấn, tốc độ 45 hải lý/giờ, số quân 19 tên, có 2 pháo 40mm, 2 pháo 20mm nòng đôi, có ra-đa cự ly 4 hải lý, trang bị thêm pháo phòng không. Hải quân ngụy dùng cho lính biệt kích, phá hoại nên được gọi là “tàu biệt kích”. Bọn này trang bị thêm súng ĐKZ và súng cối. Chúng thường cho tàu xuất phát từ khu vực cảng Đà Nẵng ra hoạt động ở vùng biển từ Quảng Bình ra Thanh Hóa. Tàu biệt kích ngụy đã tập kích vào Nhật Lệ, bắn pháo vào Hòn Ngư, đổ bộ lên Cầu Hang (Thanh Hóa). Từ đầu năm 1966, đồng thời với việc dùng không quân đẩy mạnh đánh phá các mục tiêu ở miền Bắc nước ta, Mỹ–ngụy cho tàu biệt kích tăng cường hoạt động phá hoại, bắn phá, nhất là vùng ven biển Sầm Sơn (Thanh Hóa). Thời gian hoạt động thường vào ban đêm với đội hình từng tốp 3 chiếc, được tàu khu trục không quân Mỹ yểm hộ.

Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tổng tham mưu hiệp đồng với bộ đội hải quân và lực lượng vũ trang các tỉnh ven biển, đơn vị không quân AN-2 được giao nhiệm vụ đánh tàu biệt kích. Máy bay AN-2 của ta là loại máy bay cánh quạt, tốc độ chậm, vận tải hạng nhẹ... vốn dùng để huấn luyện, thả dù, bay thăm dò địa chất, phục vụ nông nghiệp. Nay AN-2 được sử dụng vào nhiệm vụ chiến đấu, được lắp hai bình rốc-két 57mm (mỗi bình 16 quả), có máy ngắm cơ học để đánh tàu PTF của địch.

Các phân đội đội AN-2 thuộc đoàn bay 919 đã tập trung đi sâu nghiên cứu địch, tìm cách đánh mục tiêu trên biển ban đêm. Phương pháp tìm kiếm, phát hiện mục tiêu của phi công chủ yếu bằng mắt thường và ngắm bắn bằng máy ngắm cơ học. Đó là vấn đề vô cùng phức tạp, khó khăn và mới mẻ. Vừa tiến hành huấn luyện bay trên biển, vừa “quân sự dân chủ tìm cách đánh”, phương án tác chiến đã dần dần hình thành và từng bước được hoàn thiện. Công tác tổ chức, chỉ huy cũng như các mặt bảo đảm cho chiến đấu được triển khai chờ thời cơ chiến đấu.

Trận đánh mở đầu vào đêm 8-3-1966, lực lượng sử dụng: hai máy bay AN-2, mỗi máy bay mang hai bình rốc-két 57mm (32 quả). Thời tiết: đêm trăng sáng. Thời gian xuất kích: 19giờ 00 phút bay theo đường bay quy định (có ra-đa mặt đất chỉ dẫn kết hợp với quan sát bằng mắt của phi công để tìm mục tiêu).

21giờ 00 phút, máy bay đến khu vực chiến đấu, phi công phát hiện mục tiêu: 3 tàu địch cách bờ biển Sầm Sơn (Thanh Hóa) từ 20-30km. Biên đội trưởng nhanh chóng đánh giá tình hình, hạ quyết tâm, phân công mục tiêu xuất kích. Biên đội triển khai đội hình và công kích ở độ cao cách mặt nước 100m. Kết quả đã bắn chìm một tàu, bắn bị thương một tàu khác. Nhưng do công tác chỉ huy hiệp đồng với các đơn vị pháo phòng không và dân quân chưa chặt chẽ nên trên đường bay về căn cứ, một chiếc AN-2 của ta bị pháo phòng không bắn vào một số chỗ nên phải hạ cánh bắt buộc, máy bay và phi công an toàn.

Sau trận đánh mở đầu giành thắng lợi, lực lượng không quân AN-2 đã tổ chức tiếp các trận đánh tiếp theo. Đến tháng 10-1966, đã đánh 6 trận, trong đó có trận đánh hiệp đồng giữa hải quân và không quân đêm 13-6-1966. Khu vực tác chiến, ngoài biển Sầm Sơn (Thanh Hóa) từ 20-30km.

20 giờ 20 phút, tàu địch theo đội hình 3 chiếc vào khu vực dự kiến tác chiến của ta, cách Sầm Sơn 20km. Hai thuyền hải quân ta đã xuất kích đánh vào tàu địch bằng ĐKZ (mỗi thuyền 2 khẩu), súng máy 12,7mm. Tàu địch bị bất ngờ, trúng đạn, phải bỏ chạy ra khơi. Thuyền ta được lệnh quay vào bờ.

23 giờ 45 phút, biên đội 2 máy bay AN-2 của ta đang chờ ở không phận Lạch Giang bay ra công kích vào tàu địch. Một chiếc tàu địch trúng đạn rốc-két bốc cháy ngay tại chỗ; cùng lúc đó trên trời xuất hiện máy bay tiêm kích của địch nên máy bay ta rút về căn cứ. Trận đánh hiệp đồng thành công, bắn chìm một tàu địch và bắn bị thương 2 tàu khác. Trong trận chiến đấu này, pháo phòng không trên tàu địch đã bắn một máy bay ta bị thương nhẹ ở cánh liệng.

Về sau, có những trận đánh vào đêm tối trời, ta phải dùng phương pháp thả pháo sáng để tìm tàu địch và công kích. Vì thế, có trận do ta theo dõi hoạt động của không quân địch không chặt chẽ, không liên tục nên bị máy bay địch phóng tên lửa vào máy bay ta.

Đợt hoạt động chiến đấu của không quân ta trong thời kỳ này có hiệu quả và có tác dụng tốt, góp phần tiêu diệt địch, cản phá kế hoạch hoạt động của địch ở phía đông bờ biển Sầm Sơn (Thanh Hóa)./.

Thế Vỵ