Năm 1947, giặc Pháp lấn chiếm rộng ra một số vùng thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Trung đoàn 48 (Thăng Long) được giao nhiệm vụ thành lập các đại đội độc lập và trung đội vũ trang tuyên truyền. Các đội này thực hiện luồn sâu vào vùng địch tạm chiếm của các quận 4, 5, 6 thuộc ngoại thành Hà Nội để tuyên truyền, giác ngộ, vận động nhân dân thực hiện ba không với giặc Pháp (không bán hàng cho Pháp, không đi lính cho Pháp, không lập tề theo Pháp), ủng hộ Chính phủ kháng chiến.

Cuối năm 1947, đơn vị vũ trang tuyên truyền 650 thuộc Trung đoàn 48 do đồng chí Phạm Khoái là chính trị viên nhận nhiệm vụ vào hoạt động ở các làng thuộc địa bàn quận 5 (ngoại thành Hà Nội). Đến giữa năm 1948, đơn vị tiến sâu hơn vào hoạt động ở nội thành. Tôi được giao nhiệm vụ phụ trách khu Văn Miếu về mặt quân sự (đồng chí Nguyễn Trà, Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến khu) và dừng chân ở làng Hào Nam (Ô Chợ Dừa, Đống Đa).

Địa bàn khu Văn Miếu nằm sâu trong vùng địch sát với nội thành, cơ sở yếu, địch thường xuyên vây ráp, lùng sục khủng bố nhân dân để bảo đảm an toàn cho hậu cứ của chúng. Nhưng nhân dân khu Văn Miếu không sợ khó khăn, nguy hiểm, tìm mọi cách bảo vệ, nuôi giấu con em của mình.

Hai làng Hào Nam, Kim Liên là địa bàn vững chắc nhất của khu Văn Miếu, nên cấp trên giao nhiệm vụ cho khu Văn Miếu phải tổ chức xây dựng thành địa điểm dừng chân cho cán bộ ra, vào hoạt động, làm nơi trung chuyển vũ khí, tài liệu cho các khu khác trong nội thành.

Để cổ vũ phong trào cách mạng và làm cho hậu phương của địch không được ổn định, trong các ngày kỷ niệm, ngày lễ, ngày tết, đơn vị tổ chức rải truyền đơn, dán khẩu hiệu, trưng biểu ngữ, gọi loa tuyên truyền vận động nhân dân bất hợp tác với địch, ủng hộ Chính phủ kháng chiến. Đặc biệt, đêm 18-5-1950, cờ Tổ quốc được ta treo trên ngọn cây đa ở đảo giữa hồ Giám, nhân dân qua lại nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới trong gió lộng, nét mặt mọi người rất tươi vui và tin tưởng. Đến trưa 19-5-1950, địch mới hạ được cờ xuống (vì dưới cán cờ anh em buộc mấy quả lựu đạn hỏng). Đồng thời tổ chức ném lựu đạn giật mìn, quấy rối trại lính Tàu ở phố Bích Câu, trại lính Việt Hương, quận 4, cảnh binh Khâm Thiên, lực lượng Tuyên truyền xung phong đốt tàu điện tại Giám. Đặc biệt cuối năm 1949, tên bù nhìn Bảo Đại ra kinh lý miền Bắc, đơn vị đã đặt "bom bay" ở hồ Giám, phía Văn Chương bắn vào Phủ toàn quyền của địch diệt một số tên ngự lâm quân của chúng, đặt súng cối 60kg ở đê Kim Liên bắn vào Nhà máy Rượu, Nhà máy Diêm (nay là Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo) buộc tên Bảo Đại phải rút ngắn thời gian kinh lý để trở về miền Nam.

Đơn vị tổ chức tiêu diệt nhiều tên tề điệp ác ôn, có đêm ta diệt trừ 7 tên, mỗi tên đều có cáo trạng nói rõ tội ác, ghim ở ngực chúng. Đặc biệt, tên Lý Sâm ở làng Hào Nam, là phó mật thám của địch ở Liễu Giai (nhà thờ Liễu Giai), có nhiều nợ máu với nhân dân làng Hào Nam và vùng Ô Chợ Dừa, đã 2 lần bị ta ám sát trượt, nên rất cảnh giác, đề phòng. Sáng 10-4-1950, y đến nơi làm việc. Cả tổ phục kích đồng loạt nổ súng bắn khiến tên Sâm bị thương nặng, nhưng vẫn rút súng bắn trả lại làm đồng chí Xiêm bị thương. Đồng chí Khánh chạy ra đạp nó ngã xuống và bồi thêm mấy phát đạn, tước súng và cặp tài liệu rồi rút vào làng Hào Nam, được nhân dân bảo vệ an toàn.

Hoạt động trong lòng địch có nhiều gian khổ và nguy hiểm, có đồng chí đã anh dũng hy sinh trước mũi súng của quân thù như: Trần Bá Xiêm, Lại Văn Thạch…, có đồng chí mang trên người nhiều thương như Trần Thượng Đăng, Phạm Đức Nhâm… và có hơn 30 đồng chí bị địch bắt tù đày (có đồng chí bị địch bắt 2 đến 3 lần) như đồng chí Nguyễn Thị Thọ, Trần Thượng Đăng… Mặc dù địch dùng mọi hình thức thủ đoạn từ dụ dỗ, mua chuộc, tra tấn cực kỳ dã man nhằm mục đích phá vỡ cơ sở cách mạng và ly gián giữa cán bộ với nhân dân… nhưng các chiến sĩ cách mạng vẫn một mực giữ vững lòng trung kiên, không khuất phục trước mọi sự xảo trá của địch để bảo vệ đồng đội, bảo vệ nhân dân.

Đại tá PHẠM HUY NGUYÊN