Xe tăng Quân giải phóng từ phía tây nam tiến vào giải phóng Đà Nẵng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Ảnh tư liệu

Đối với những sự kiện lịch sử, thời gian không những không làm phai mờ, mà trái lại càng làm sáng tỏ thêm giá trị và ý nghĩa to lớn đối với dân tộc và thời đại. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, mà đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã đập tan chế độ thực dân mới, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Dưới góc nhìn của một nhà quân sự, Thượng tướng-Giáo sư HOÀNG MINH THẢO đã có bài viết khẳng định những bước phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Báo Quân đội nhân dân xin trích giới thiệu cùng bạn đọc.

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của truyền thống đấu tranh vũ trang rất anh hùng. Phải đối mặt với những kẻ thù xâm lược có tiềm lực quân sự và kinh tế mạnh, có quân số đông, vũ khí, trang bị nhiều hơn ta, dân tộc Việt Nam đã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh giải phóng hoặc chiến tranh tự vệ để khôi phục hoặc bảo vệ quyền độc lập, tự do của mình. Nền nghệ thuật quân sự Việt Nam không ngừng phát triển và có những bước nhảy vọt. Một trong những bước nhảy vọt lịch sử đó là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ, nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của ta mới là chỉ đạo chiến lược trên toàn chiến trường. Các chiến dịch, các đợt hoạt động trên các chiến trường mới phối hợp với nhau theo kế hoạch của Bộ Tổng tư lệnh. Hiệu quả tác chiến đạt được mới chỉ là thắng lợi chiến dịch và thắng lợi chiến lược bộ phận. Tuy chúng ta có đạt được hiệu quả kết thúc chiến tranh, nhưng chưa giải quyết được thắng lợi triệt để.

Cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975 có những bước phát triển mới và cao hơn nhiều về nghệ thuật chỉ đạo chiến lược. Các chiến dịch diễn ra trên các chiến trường nằm trong một kế hoạch thống nhất của Bộ Tổng tư lệnh và được tiến hành theo các bước phát triển của chiến lược. Các chiến dịch được mở ra trên các chiến trường không chỉ có sự phối hợp chiến trường về mặt kế hoạch, mà còn có sự hiệp đồng chặt chẽ về tình huống chiến lược và tình huống chiến dịch. Các chiến dịch trên chiến trường có mối quan hệ hữu cơ trong quá trình phát triển của chiến lược. Sự phối hợp, hiệp đồng giữa các chiến dịch trên các hướng chiến lược, trên các chiến trường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thúc đẩy, tạo điều kiện, làm tiền đề cho nhau phát triển và cho sự phát triển của toàn bộ chiến lược. Các chiến dịch kế tiếp nhau một cách liên tục, gối đầu nhau theo đà phát triển ngày càng lớn của tiến công chiến lược và cùng nhau hướng sự phát triển tiến công chiến lược lên tới cao trào. Tình hình đó đã làm cho thắng lợi chiến lược được phát triển liên tục, ngày càng thắng lợi lớn và đi đến thắng lợi hoàn toàn, triệt để.

Nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của Đảng ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã phát triển lên một bước cao hơn nghệ thuật chỉ đạo chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954. Nó có tính chất như là chỉ đạo, chỉ huy một chiến dịch chiến lược lớn trên toàn bộ chiến trường Việt Nam. Nghệ thuật chỉ đạo chiến cuộc gắn chặt với nghệ thuật chỉ đạo một chiến dịch có tính chất chiến lược trên toàn bộ chiến trường.

Trên, cơ sở của hai phương thức tiến hành chiến tranh, Đảng và Quân đội ta đã xây dựng được các binh đoàn lớn; được trang bị vũ khí hiện đại, gồm nhiều quân chủng, binh chủng. Do xây dựng được các quân đoàn và trang bị vũ khí hiện đại, ta mới tổ chức được các tập đoàn chiến dịch và chiến lược để đánh những đòn tập trung tiêu diệt lớn, tiêu diệt quyết định. Trình độ tác chiến của LLVT ta đã được nâng lên trình độ tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng hiện đại cấp quân đoàn và cụm quân đoàn. Trong khi đó, trình độ tác chiến của quân địch mới ở cấp sư đoàn và cụm sư đoàn. Do xây dựng được các binh đoàn lớn, và do chiến tranh nhân dân phát triển, nên tuy LLVT của ta có ít hơn địch, nhưng Bộ Tổng tư lệnh vẫn có một quân đoàn dự bị cơ động chiến lược, trong khi hai sư đoàn dự bị cơ động chiến lược là sư đoàn dù và sư đoàn lính thủy đánh bộ của địch đã phải tung ra làm nhiệm vụ tác chiến ở phía trước, đồng thời bị ta tiêu hao và giam chân ở Huế, Đà Nẵng.

Một điểm thể hiện rõ sự phát triển của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta là sự phát triển của chiến tranh nhân dân. Biểu hiện cụ thể là tuyến vận tải chiến lược - Đường Hồ Chí Minh của Đoàn 559. Chính nhờ tuyến vận tải này nên ta đã bố trí được một thế trận chiến lược vô cùng mạnh, chạy dài từ Quảng Trị, qua Tây Nguyên, đến phía tây Sài Gòn và cuối cùng là đồng bằng sông Cửu Long. Thế trận chiến lược lợi hại đó cho phép ta có thể bố trí không những các đơn vị cỡ sư đoàn, mở các đòn tiến công trên toàn tuyến phòng ngự của địch, đồng thời tiến công Quảng Trị, Huế và vùng giáp ranh, ngoại vi Sài Gòn. Do ta bố trí được thế trận chiến lược sâu, hiểm như vậy, làm cho chiều sâu phòng ngự chiến lược của địch trở nên rất nông, mỏng. Các binh đoàn chủ lực cỡ sư đoàn, quân đoàn của ta chỉ nằm cách “thủ đô” của địch từ 40km đến 60km.

Sự phát triển của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta còn được thể hiện ở nghệ thuật nắm và chớp thời cơ chiến lược. Do nghệ thuật chỉ đạo chiến lược được nâng lên trình độ chỉ đạo chiến cuộc mang tính chất như chỉ huy một chiến dịch có tính chất chiến lược và do thế trận của chiến tranh nhân dân sâu, hiểm, nên tốc độ tác chiến rất cao, thắng lợi rất nhanh, từ đó thời cơ chiến lược xuất hiện liên tục. Nghệ thuật xuất sắc của Đảng ta là biết dự kiến thời cơ, biết nắm thời cơ chiến lược và biết chớp các thời cơ đó một cách kịp thời. Do dự kiến thời cơ, nắm và chớp được thời cơ, nên kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm mà chúng ta chỉ thực hiện trong 55 ngày.