Thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (tháng 1-1968) và theo đề nghị của Bộ Tổng tham mưu, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch tiến công Đường 9-Khe Sanh nhằm thu hút lực lượng chủ lực của địch ra Đường 9 để giam chân chúng, trực tiếp phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc tổng tiến công của quân và dân ta tại các đô thị lớn, đặc biệt là ở Sài Gòn, Huế và Trị Thiên. Đồng thời tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, phá vỡ một phần tuyến phòng ngự Đường số 9 của chúng.
Thực hiện chủ trương trên, ta huy động lực lượng lớn gồm 4 sư đoàn bộ binh, nhiều trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng (tăng thiết giáp, pháo binh, thông tin, hóa học, công binh...) và các đơn vị vũ trang địa phương.
Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch xác định hướng tiến công chủ yếu là phía Tây, hướng quan trọng là phía Đông. Chiến dịch mở màn vào ngày 20-1-1968, kết thúc ngày 15-7-1968. Trải qua 177 ngày, đêm với 4 đợt tiến công và nhiều trận chiến đấu, chiến dịch Đường 9-Khe Sanh đã giành thắng lợi lớn kéo căng một lực lượng đáng kể quân Mỹ ra Đường số 9, thực hiện được chủ trương “căng kéo lực lượng của địch trên toàn chiến trường”. Bị thiệt hại lớn, địch không chịu nổi phải rút khỏi Khe Sanh, ta giải phóng Đường số 9 và hoàn toàn huyện Hướng Hóa (Quảng Trị) địa bàn có ý nghĩa chiến lược, khai thông tuyến đường vận chuyển chiến lược Bắc-Nam, góp phần thắng lợi cho chiến dịch Đường 9-Nam Lào 1971 và chiến dịch tiến công Trị Thiên sau này.
Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh có sự phát triển mới về nghệ thuật quân sự.
Một là, nghệ thuật tổ chức và điều hành của cấp chiến lược trên cả hai hướng Đông và Tây. Đó là nghệ thuật chọn đúng khu vực tác chiến chiến dịch chính xác và kiên quyết, chủ động tiến công liên tục, đồng thời chỉ đạo vận dụng linh hoạt các hình thức và thủ đoạn chiến thuật để giành thắng lợi. Trong đó nổi bật và đặc sắc nhất là nghệ thuật chọn hướng và tập trung lực lượng đánh phá liên tục vào tuyến phòng ngự của địch bằng hiệp đồng binh chủng, phá vỡ từng vị trí riêng lẻ từ ngoài vào trong, sau đó phát triển lên vây hãm, vây lấn cụm cứ điểm (Tà Cơn), tạo sức ép lớn buộc địch phải ra ứng cứu, giải tỏa và cuối cùng buộc chúng phải rút khỏi Khe Sanh.
Ở hướng Đông ta sử dụng lực lượng bộ binh dựa vào làng mạc, kết hợp với sông ngòi thực hiện chiến thuật phòng ngự có hiệu quả tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, giữ vững trận địa trong thời gian dài hỗ trợ cho hướng chủ yếu của chiến dịch (hướng Tây), giải phóng một vùng rộng lớn, mở thông hành lang chiến lược vào các chiến trường miền Nam.
Hai là, nghệ thuật sử dụng lực lượng đột kích tiến công liên tục bằng hiệp đồng binh chủng. Trong chiến dịch này, lần đầu tiên ta sử dụng nhiều binh chủng kỹ thuật mạnh như pháo binh, xe tăng. Đặc biệt là sự xuất hiện bất ngờ của xe tăng trong trận Làng Vây đã gây cho quân địch một đòn choáng váng. Ta đã sử dụng nghệ thuật kết hợp và hiệp đồng chặt chẽ giữa các mũi, các hướng tiến công đột phá với phát triển vây lấn, kìm hãm tạo sức ép lớn buộc địch phải cầm cự rồi rút quân khỏi căn cứ lớn Khe Sanh.
Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh nằm trong tổng thể chiến lược của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), là chiến dịch tiến công mang ý nghĩa một đòn đánh chiến lược quan trọng làm cho quân Mỹ đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Trong chiến dịch này, ta đã lừa Mỹ ra vòng ngoài, sau đó dùng lực lượng tổng hợp đánh vào đô thị phía trong-nơi Mỹ sơ hở làm cho bộ chỉ huy của Mỹ ra vòng ngoài, sau đó dùng lực lượng tổng hợp đánh vào đô thị phía trong – nơi Mỹ sơ hở làm cho Mỹ không kịp trở tay.
Có thể khẳng định rằng, chủ trương mở Mặt trận Đường số 9 của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt, là một trong những nét xuất sắc trong nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của Đảng trong chiến tranh cách mạng miền Nam nói chung, trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân nói riêng.
Tiến sĩ NGUYỄN VĂN BẠO (Học viện Chính trị-Quân sự)