QĐND - Trong những ngày cả nước phấn khởi kỷ niệm 36 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, Trung tướng Phạm Xuân Thệ, nguyên Tư lệnh Quân khu 1, nguyên Trung đoàn phó Trung đoàn 66, Sư đoàn 304, Binh đoàn Hương Giang… đón nhận tin vui được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Sinh ra và lớn lên trên quê hương Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, tháng 8-1967, đang là lái xe trên công trình thủy điện Thác Bà, Phạm Xuân Thệ tiếp bước người anh trai (vào bộ đội năm 1965, hy sinh năm 1966 tại đường 20, Quảng Bình) lên đường nhập ngũ. Sau mấy tháng huấn luyện ở miền Bắc, anh được biên chế về Đại đội 11, Tiểu đoàn 9, Sư đoàn 304, hành quân gấp vào chiến trường miền Nam, tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, tại mặt trận Khe Sanh, Quảng Trị. Lần đầu tiên giáp mặt quân Mỹ xâm lược với lực lượng đông, cố thủ trong công sự, sử dụng vũ khí hiện đại, chống trả quyết liệt... nhưng Phạm Xuân Thệ đã cùng đồng đội chiến đấu liên tục ngày đêm, đánh bật quân địch ra khỏi điểm cao 425 và giữ vững trận địa.

Đầu tháng 6-1970, khoảng một tiểu đoàn quân ngụy Sài Gòn đổ bộ xuống động Cô Tiên, ở phía bắc Khe Sanh. Tiểu đoàn 9 được giao nhiệm vụ tiêu diệt chúng. Vào thời điểm ấy, đang là Trung đội trưởng, Phạm Xuân Thệ được đề bạt làm Đại đội phó Đại đội 11. Đại đội 11 nổ súng mở cửa hàng rào thép gai, phát triển chiến đấu, chiếm được mỏm phía tây động Cô Tiên. Đồng chí Đại đội trưởng Nguyễn Hải Chiến bị thương, Phạm Xuân Thệ được giao nhiệm vụ thay thế, tiếp tục chỉ huy đơn vị đánh vào trận địa của địch. Địch chống cự dữ dội. Thêm một số cán bộ, chiến sĩ thương vong. Phạm Xuân Thệ cũng bị thương vào vai phải, tay phải, nhưng anh vẫn bình tĩnh dẫn đầu đại đội xông lên tiếp tục chiến đấu. Dưới sự chỉ huy của anh, Đại đội 11 cùng các đơn vị Tiểu đoàn 9 tiêu diệt được khoảng một tiểu đoàn địch, bắt sống tù binh, làm chủ trận địa. Đây là trận được Bộ tư lệnh Quân khu Trị Thiên đánh giá đạt hiệu suất cao (một tiểu đoàn bộ binh ta tiêu diệt được một tiểu đoàn và sở chỉ huy nhẹ trung đoàn địch), Phạm Xuân Thệ được bầu là Chiến sĩ thi đua Sư đoàn 304 và được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.

Trung đoàn phó Trung đoàn 66 Phạm Xuân Thệ (người đứng ngoài cùng bên phải) chứng kiến Tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng Quân giải phóng do anh cùng Trung tá Bùi Tùng, Chính ủy Lữ đoàn 203 xe tăng và một số cán bộ bàn bạc, soạn thảo. Ảnh tư liệu.

Tháng 2-1971, Phạm Xuân Thệ được chuyển sang làm Đại đội trưởng Đại đội 10, Tiểu đoàn 9. Ngày 17-3, đại đội nhận nhiệm vụ hành quân, tiêu diệt địch ở ngã ba bản Đông trong chiến dịch Đường 9-Nam Lào. Trên đường tiếp cận trận địa, phát hiện lực lượng xe tăng, thiết giáp địch, Phạm Xuân Thệ lập tức chỉ huy đại đội triển khai đội hình chiến đấu, tiêu diệt được hàng chục tên địch, bắn cháy xe tăng, buộc chúng phải tháo chạy. Thừa thắng, đại đội xông lên làm chủ ngã ba bản Đông. Kết thúc trận đánh, Phạm Xuân Thệ bị thương nặng ở hai tay nên phải ra Quảng Bình điều trị, nhưng vừa lành vết thương anh đã trở về đơn vị và được điều sang làm Đại đội trưởng Đại đội 11 trong tiểu đoàn.

Tháng 3-1972, quân và dân ta mở chiến dịch giải phóng Quảng Trị. Đại đội 11 có nhiệm vụ truy kích địch từ Động Toàn rút chạy về Mai Lộc. Phạm Xuân Thệ đã chỉ huy đơn vị chiến đấu dũng mãnh, tiêu diệt khoảng một đại đội địch, sau đó cùng các đại đội thuộc Tiểu đoàn 9 tiến đánh căn cứ Mai Lộc, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch ở đây. Sau trận đánh, Phạm Xuân Thệ được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất.

Đầu tháng 5-1972, địch đánh phá ác liệt, Phạm Xuân Thệ bị thương nặng phải về tuyến sau điều trị. Lành vết thương, anh trở về đơn vị ngay và được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 66. Tháng 9, tiểu đoàn được giao nhiệm vụ tiến công tiêu diệt địch ở điểm cao 105, phía Nam sông Nhùng thuộc huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Trong khi chỉ huy chiến đấu, Phạm Xuân Thệ lại bị thương nặng. Lần này anh phải ra miền Bắc điều trị và về an dưỡng tại Đoàn 296, Quân khu 3 trên quê hương Hà Nam. Tại đây, Phạm Xuân Thệ được chỉ huy đoàn thông báo đang chuẩn bị làm thủ tục cho anh phục viên vì lý do sức khỏe, không trở lại đơn vị chiến đấu được nữa. Rồi Phạm Xuân Thệ được nghỉ phép về quê, cưới vợ. Cưới xong, nếu nhận quyết định phục viên anh sẽ được hưởng cuộc sống hòa bình bên người vợ trẻ và cha mẹ, anh em, bởi lúc này, Hiệp định Pa-ri về Việt Nam đã được ký kết. Nhưng nghĩ tới đồng đội, nghĩ tới cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam chưa kết thúc và thấy sức khỏe vẫn bảo đảm, Phạm Xuân Thệ đã tạm biệt gia đình trở lại đơn vị cũ.

Giữa năm 1973, Phạm Xuân Thệ được bổ nhiệm làm Tham mưu phó Trung đoàn 66. Trung đoàn được lệnh hành quân vào chiến trường Khu 5, đánh chiếm căn cứ Thượng Đức, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Đà (cũ), cách thành phố Đà Nẵng khoảng 40km về phía Tây. Đây là căn cứ địch được xây dựng kiên cố với lô cốt bê tông cốt thép và nhiều hàng rào thép gai bao quanh, án ngữ trục đường 14 từ Đà Nẵng đi biên giới Việt-Lào. Ngày 28-7-1974, Trung đoàn 66 nổ súng tấn công tiêu diệt căn cứ này. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra gay go, quyết liệt. Ta mở nhiều đợt tấn công nhưng không đánh bật địch ra khỏi căn cứ. Nhiều cán bộ, chiến sĩ trung đoàn thương vong. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 Lê Thanh Tư bị thương nặng, không tiếp tục chỉ huy chiến đấu được nữa. Phạm Xuân Thệ được cử xuống chỉ huy tiểu đoàn. Khi nhận nhiệm vụ, anh hứa với chỉ huy Trung đoàn 66, chỉ huy Sư đoàn 304, dù hy sinh cũng quyết tâm chỉ huy đơn vị mở cửa vào được căn cứ. Quyết tâm thực hiện bằng được lời hứa, Phạm Xuân Thệ đã dũng cảm, mưu trí chỉ huy, động viên cán bộ, chiến sĩ chiến đấu và sau 30 phút đã tiêu diệt được tiền đồn C, án ngữ phía Tây, mở cửa vào đánh chiếm căn cứ Thượng Đức, tiêu diệt đại đội bảo an, bắt sống được hàng chục tù binh. Phát huy thắng lợi của Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 đã tăng cường lực lượng tiến công theo hướng Tiểu đoàn 9 đã mở, gần một ngày sau đã làm chủ hoàn toàn căn cứ Thượng Đức, giải phóng hoàn toàn quận lỵ Thượng Đức, bắt sống và tiêu diệt hơn 2000 tên địch. Phạm Xuân Thệ một lần nữa được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và được đề bạt Trung đoàn phó Trung đoàn 66. Tiếp đó, anh được giao chỉ huy Tiểu đoàn 8 đánh địch dọc đường 14 và ở quận lỵ Hiếu Đức, căn cứ Hà Cầm, sân bay Đà Nẵng. Trưa 29-3-1975, tiểu đoàn và các đơn vị bạn đã giải phóng thành phố Đà Nẵng và tiếp tục chiến đấu tiêu diệt địch từ Phú Yên đến thành phố Sài Gòn.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 nằm trong đội hình thọc sâu của Quân đoàn 2, Phạm Xuân Thệ được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 7 đi đầu cùng đội hình xe tăng tiêu diệt địch trên đường tiến công. Sáng 30-4-1975, tiểu đoàn đến cầu Sài Gòn thì bị địch chống trả dữ dội. Phạm Xuân Thệ đã chỉ huy tiểu đoàn phối hợp với xe tăng Lữ đoàn 203 đánh chiếm cầu, bắn cháy 4 xe tăng và 2 tàu chiến địch, buộc chúng phải rút chạy. Khoảng hơn 11 giờ ngày 30-4, sau khi chiếc xe tăng 390 húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập, chiếc xe Jeep chở Phạm Xuân Thệ và một tổ cán bộ, chiến sĩ cũng tiến vào. Tiếp đó, anh cùng một số cán bộ Binh đoàn và biệt động Sài Gòn tiến vào Dinh Độc Lập, yêu cầu Tổng thống Dương Văn Minh cùng toàn bộ nội các Sài Gòn đầu hàng vô điều kiện, rồi đưa sang Đài phát thanh đọc lời tuyên bố đầu hàng Quân giải phóng do anh cùng Trung tá Bùi Tùng, Chính ủy Lữ đoàn 203 xe tăng và một số cán bộ bàn bạc, soạn thảo. Sau Chiến dịch Hồ Chí Minh, Phạm Xuân Thệ được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất.

Từ một chiến sĩ chưa qua lớp đào tạo cơ bản nào về quân sự, nhưng bằng ý chí sắt đá, tinh thần chiến đấu mưu trí, sáng tạo, Phạm Xuân Thệ đã trở thành Trung đoàn phó Trung đoàn 66 và luôn luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Riêng anh được tặng thưởng 4 Huân chương Chiến công giải phóng (gồm 2 Huân chương hạng nhất, 1 Huân chương hạng nhì và 1 Huân chương hạng ba).

 

 

Đất nước hòa bình, Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ được quân đội đưa đi đào tạo ở các học viện, nhà trường trong nước và nước ngoài. Anh được bổ nhiệm giữ các chức vụ từ Tham mưu phó Sư đoàn 304 đến chức vụ Tư lệnh Binh đoàn Hương Giang, rồi Tư lệnh Quân khu 1 (tháng 10-2002), được thăng quân hàm Trung tướng năm 2003. Ở bất kỳ cương vị công tác nào, Trung tướng Phạm Xuân Thệ đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, được cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tin yêu.

 

DUY THỦY