QĐND - Thực hiện Nghị quyết 21 của Trung ương Đảng, từ hè-thu năm 1973 đến đầu năm 1975, quân và dân ta ở hai miền Nam, Bắc đã đẩy mạnh hoạt động tạo thế, tạo lực, phát triển mạnh mẽ quân chủ lực theo hướng tác chiến hiệp đồng quân-binh chủng quy mô lớn, tích cực tổ chức lại chiến trường. Để thực hiện thắng lợi kế hoạch chiến lược của Bộ Chính trị vạch ra trong hai năm 1975-1976, lực lượng quân khí ba thứ quân đã chủ động, tích cực tạo thế cơ động, bảo đảm kịp thời, đồng bộ vũ khí, đạn dược phục vụ cho những chiến dịch trên các hướng tiến công của mặt trận. Công tác bảo đảm vũ khí, đạn dược được tổ chức thực hiện với nhiều phương thức linh hoạt, đạt được tính bí mật, bất ngờ và cơ động thần tốc, chắc thắng.
 |
|
Bộ đội Quân khí vận chuyển vũ khí, đạn dược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.
|
Quyết tâm của ngành Quân khí trong 3 tháng đầu năm 1975 là thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao, hoàn thành cơ bản kế hoạch chi viện vũ khí, khí tài, đạn dược cho chiến trường miền Nam; cử cán bộ chuyên ngành tới các đơn vị và tổ chức bảo đảm trang bị, kỹ thuật cho các trạm, xưởng sửa chữa trên các hướng chiến trường. Để tạo thế cơ động bảo đảm kỹ thuật, Cục Quân khí đã tổ chức 3 tổ phái viên, 5 đoàn cán bộ và các đội thu hồi, sửa chữa vào công tác ở chiến trường miền Nam. Các tổ cán bộ kỹ thuật tăng cường có mặt kịp thời tại Quân khu 5, Mặt trận Trị-Thiên, Nam bộ... Khi chuẩn bị cho Chiến dịch Tây Nguyên, Cục Quân khí khẩn trương bảo đảm vũ khí, đạn dược cho các đơn vị tham gia chiến dịch. Một mặt, lực lượng quân khí tham gia nghi binh lừa địch, mặt khác tổ chức bí mật bảo đảm cho các đơn vị tham gia đánh trận mở màn chiến lược vào Buôn Ma Thuột. Bằng sự chủ động tạo thế, cơ quan quân khí mặt trận Tây Nguyên, được sự chỉ đạo chuyên môn của trên đã bảo đảm đầy đủ vũ khí, đạn dược cho chiến dịch với tổng trữ lượng khoảng 2.600 tấn, bảo đảm cho 4 sư đoàn bộ binh chủ lực và hàng chục trung đoàn pháo binh, pháo phòng không, xe tăng, đặc công, công binh, thông tin và các đơn vị khác.
Sau Chiến dịch Tây Nguyên, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 phát triển, lực lượng quân khí ba thứ quân, nòng cốt là bộ đội chủ lực đã bám sát các đơn vị, chiến trường để bảo đảm vũ khí, đạn dược. Với các phương thức bảo đảm linh hoạt như bảo đảm tại chỗ, bảo đảm trong hành tiến, khai thác nguồn dự trữ và sử dụng vũ khí, đạn dược chiến lợi phẩm thu được của địch để bảo đảm cho các đơn vị. Cuộc hành quân thần tốc của Quân đoàn 1 từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh đã được Cục Quân khí chỉ đạo tổ chức lực lượng bảo đảm kịp thời vũ khí, khí tài, đạn dược đầy đủ, đồng bộ cho chiến đấu. Quân đoàn 2 tiến công địch dọc theo ven biển miền Trung, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh và thọc sâu tiến vào Dinh Độc Lập đã được ngành quân khí chủ động, tích cực bảo đảm vũ khí, trang bị trong hành tiến. Lực lượng quân khí Quân đoàn 2 tổ chức thu hồi, sửa chữa súng pháo, đạn dược chiến lợi phẩm bổ sung vào trang bị cho đơn vị, đạt tỷ lệ bằng 1/3 theo biên chế.
 |
|
Du kích Nam bộ vận chuyển vũ khí phục vụ chiến dịch.
|
Khi Quân đoàn 3 thành lập, Cục Quân khí đã tăng cường cán bộ, nhân viên, thợ sửa chữa, nhanh chóng kiện toàn tổ chức, biên chế ngành quân khí quân đoàn và khẩn trương làm công tác bảo đảm vũ khí, đạn dược phục vụ chiến dịch, bảo đảm chiến đấu thắng lợi. Quân đoàn 4 hoạt động ở Nam bộ có nhiều khó khăn, lực lượng quân khí tại các Xưởng OX1, OX2 sửa chữa tại chỗ, bảo đảm trang bị và kỹ thuật cho các đơn vị. Khi Quân đoàn 4 được tăng cường Sư đoàn 341 từ miền Bắc, Lữ đoàn 52 của Quân khu 5, Cục Quân khí và lực lượng quân khí của các đơn vị đã tổ chức bảo đảm đầy đủ vũ khí, khí tài, đạn dược cho các nhiệm vụ. Đoàn 232 thuộc Bộ tư lệnh Miền, các đơn vị đặc công, phòng không-không quân và các đơn vị binh chủng khác được lực lượng quân khí chú trọng bảo đảm và tăng cường trang bị. Quân khí bộ đội chủ lực và các địa phương tích cực hỗ trợ lực lượng vũ trang nhân dân, du kích tự tạo vũ khí đánh địch, nổi dậy. Với các hình thức bảo đảm tập trung, cơ động, tự trang bị và dự trữ “lót ổ”, ngành quân khí ba thứ quân đã bảo đảm cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 hơn 120 nghìn tấn vũ khí, đạn dược, lớn hơn 1,14 lần số vũ khí, đạn chi viện cho chiến trường miền Nam trong 8 năm, từ 1965 đến 1972.
Cùng với tạo thế, chủ động dự trữ, chuẩn bị cho chiến dịch, ngành quân khí đã thực hiện tốt công tác động viên chiến tranh. Chỉ trong thời gian ngắn, hàng nghìn tấn vũ khí, đạn dược đã được ngành vận chuyển đưa từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam, đồng thời huy động sản xuất, tổng lắp, bảo đảm vũ khí, đạn dược, khí tài, phương tiện từ các cơ sở công nghiệp quốc phòng và nền kinh tế quốc dân. Đặc biệt, trong quá trình diễn ra chiến dịch, ngoài số vũ khí, đạn thu được của địch, ngành quân khí đã động viên lực lượng nhân viên chuyên môn kỹ thuật, trưng dụng các cơ sở ở địa phương miền Nam sửa chữa, sản xuất, cung ứng vật tư kỹ thuật phục vụ bảo đảm kỹ thuật cho vũ khí, khí tài, đạn dược.
Nắm vững thời cơ, vận dụng sáng tạo trong công tác bảo đảm, thường xuyên xây dựng và củng cố tổ chức biên chế ngành, triển khai linh hoạt các phương thức bảo đảm và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn quân, toàn dân, ngành quân khí đã góp phần làm nên thắng lợi trọn vẹn của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, thống nhất đất nước. Những bài học kinh nghiệm và nghệ thuật tổ chức, bảo đảm vũ khí, khí tài, đạn dược trong chiến tranh tiếp tục được ngành quân khí nghiên cứu phát triển, vận dụng để xây dựng ngành, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của quân đội và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.
Thiếu tướng Lê Quý Đạm