Phía trước vẫn hun hút cung đường khấp khểnh, mỗi lần đi qua đoạn đường “sống trâu” mọi người lại xô dạt, dồn về một hướng. Phía dưới bánh xe, tiếng lạo xạo của đá dăm sắc lẹm sẵn sàng cào rách và chọc thủng lốp xe bất cứ lúc nào.
Chuyến công tác này, tôi tham gia cùng đoàn thiện nguyện, xuất phát từ Hà Nội, mang theo quần áo, sách vở, thuốc men và các nhu yếu phẩm lên Trường Tiểu học Mường Ải (Kỳ Sơn, Nghệ An), một điểm trường vùng biên cương xa xôi vừa bị thiệt hại nặng nề do cơn lũ dữ. Càng bất ngờ hơn khi biết Đồn Biên phòng Mường Típ, nơi tôi đến công tác lại “sát vách” với Trường Tiểu học Mường Ải. Chẳng biết từ lúc nào, những câu chuyện về tình quân dân nơi đây cứ rôm rả trong suốt chuyến hành trình. Đường càng lên cao càng khó đi. Thấm vội những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán, anh lái xe trong đoàn cười bảo thế mới biết “tay lái” của các "cụ" Trường Sơn thời xưa siêu đẳng thế nào; giữa bom rơi, đạn nổ mà xe vẫn cứ chạy băng băng, thiện nghệ và bản lĩnh. Tuy miệng nói chuyện, nhưng anh lái xe vẫn phải căng mắt chăm chú căn chỉnh vô lăng sao cho bánh xe bám đường chính xác. Bởi, sơ sểnh một chút, bánh xe trượt hố, bênh gầm, chỉ còn nước phải bỏ xe lại giữa rừng và “cõng” hàng hóa.
 |
Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Mường Típ giúp đoàn thiện nguyện chuyển quà vào Trường Tiểu học Mường Ải. Ảnh: HÀ CHUYÊN. |
Ánh bình minh chiếu rọi, chút lãng đãng sương đêm còn sót lại đang “trốn” cái nắng trong những vòm lá xum xuê. Giữa núi rừng trùng điệp, cảm giác mệt, say xe nhường chỗ cho vẻ đẹp hoang sơ miền sơn cước. Rừng ví như người mẹ hiền khổng lồ, địu trên vai những đứa con mang dáng hình núi với màu xanh bất tận. Ngắm cảnh đẹp hùng vĩ của núi rừng từ trên cao, những con đường khấp khểnh lúc trước giờ mỏng manh như họa tiết đường viền, dòng sông Nậm Típ hiền hòa như dải lụa mềm vắt qua triền núi mênh mang tầm mắt tạo thành điểm nhấn trong bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ. Thấp thoáng đâu đó nếp nhà sàn của bản làng vùng cao, những bà mế áo quần sặc sỡ, trên lưng là những gùi sắn, gùi ngô trĩu nặng, vừa xuống núi vừa trò chuyện rôm rả.
Đoàn xe dừng lại. Lúc này tôi mới để ý phía trước, núi bị sạt một góc, sắc lẹm như vết dao phạt xuống, hậu quả của cơn lũ vừa qua. Con đường huyết mạch dẫn lên điểm trường Mường Ải và Đồn Biên phòng Mường Típ biến mất, thay vào đó là vực sâu hun hút, nham nhở đất đá giống như miệng con quái thú khổng lồ. Muốn vào trong, chỉ còn cách đi qua miệng con quái thú ấy. Chị Vũ Thị Hoài An, Phó trưởng đoàn thiện nguyện “Trâu vàng 1973-Đất Việt” nhìn tôi với ánh mắt lo lắng: "Vài tấn hàng hóa, giờ làm thế nào vận chuyển vào trường cho học sinh?". Giữa lúc cam go ấy, từ phía xa, thấp thoáng những màu áo xanh quen thuộc xuất hiện. Bộ đội Đồn Biên phòng Mường Típ có mặt. Tất cả thở phào nhẹ nhõm!
Bám theo người dẫn đường, chúng tôi dò dẫm, cúi thấp người bấu víu vào đất, bước chân người sau đặt đúng vị trí người đi trước để tránh đất lở. Bỗng có tiếng động lạ, ai đó đạp nhầm vào viên đá mồ côi, âm vang lộc cộc khô khốc lao xuống vực thẳm, ngước lên trên, một khối đá khổng lồ đang mắc kẹt trên đầu. Khối đá ấy trôi từ trên đỉnh núi xuống, nằm chông chênh như thử thách lòng dũng cảm của con người, sẵn sàng lao xuống vực bất cứ lúc nào khi gặp cơn mưa nhỏ, bởi đất đã ngấm no nước. Nhắm tịt mắt, hít thở thật sâu, không dám nghĩ, cũng chẳng hé nhìn, lặng lẽ nín thở bò qua, sang được bên kia bờ, nhiều người ngồi thụp xuống đất vì... sợ.
“Việc gì khó, có bộ đội biên phòng”, đó vừa là cách nói yêu quý, nhưng đồng thời cũng phản ánh đúng công việc thực tế của các anh. Đồng bào các dân tộc nơi đây luôn coi cán bộ, chiến sĩ biên phòng như người con của bản mình. Màu áo bộ đội thân thiết như màu xanh lá cây rừng, tình nghĩa quân dân đầy đặn như những con suối không bao giờ cạn nước. Từ chuyện nhỏ đến công to việc lớn của bản làng; từ chuyện buồn đến chuyện vui trong mỗi căn nhà, đều có bóng dáng của Bộ đội Biên phòng (BĐBP)... Việc khó, BĐBP kịp thời giúp đỡ, chuyện riêng thì động viên bà con cố gắng vượt qua. Gần đây nhất, trận lũ lịch sử ập đến, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Mường Típ khi ấy vừa tắt đèn đi ngủ thì nhận được lệnh tập trung, nhiệm vụ quan trọng bằng mọi giá phải di dời đồng bào ra khỏi vùng nguy hiểm. Triển khai nhiệm vụ xong, lập tức các chiến sĩ tỏa đi nhiều hướng giúp bà con sơ tán người và chuyển tài sản đến nơi an toàn. Trắng đêm, bộ đội không chợp mắt, ai nấy đều rất mệt, nhưng biết bà con an toàn, bộ đội như có thêm động lực. Nhìn dòng lũ hung dữ cuốn theo nhà cửa, đất đá rồi sạt lở cả cánh rừng, bà con càng vững tin vào lời nói, việc làm của các anh. Tôi đem chuyện này tâm sự với Thượng tá Nguyễn Đình Viên, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Mường Típ thì được biết thêm: Ngoài nhiệm vụ chuyên môn của các tổ công tác, mỗi cán bộ, chiến sĩ cắm bản phải giỏi một việc, biết nhiều việc, xông xáo, đồng cam cộng khổ, chia sẻ khó khăn cùng bà con. Dù nửa đêm gà gáy, hễ có người ốm đau ở bất kỳ đâu, quân y đơn vị sẵn sàng lên đường để thăm khám, thậm chí có lúc họ kiêm luôn bà đỡ. Nhà nào mất điện, các anh kiêm luôn thợ điện, nhà nào bị tốc mái, các anh cũng không ngần ngại leo lên dặm lại mái nhà giúp dân… Việc gì khó, bộ đội phải chủ động làm trước, rồi chỉ dẫn để mọi người biết cách làm theo.
Cái khó ở đây là việc học chữ, không có cái chữ, cái nghèo cứ đeo bám mãi. Học cái chữ sao nó khó thế, không đơn giản như đi rẫy, làm nương. Nhiều cháu muốn “trốn” khi nhà trường đến “bắt” đi học. Đã vậy, có phụ huynh còn chưa hiểu: Lên rừng hái củi còn bán được tiền, học cái chữ có bán được đâu...? Thế là cán bộ biên phòng lại phải động viên, phân tích, làm tư tưởng. Cuối cùng, các cháu cũng tiếp tục được đến trường, đến lớp. Hình ảnh thầy giáo đi trước, học trò theo sau, đi cuối cùng là các chiến sĩ biên phòng, nào tay xách, vai đeo, đâu là gạo, là mắm muối, soong nồi, bếp núc… có khi còn phải cõng cả những học sinh vì đường xa, đuối sức.
Nhớ hôm tôi đến, đã quá giờ ăn trưa của bộ đội mà doanh trại vắng vẻ lạ thường. Trên bàn ăn, mâm cơm cũng dần nguội. Anh Nguyễn Đình Viên liếc nhìn đồng hồ, giọng trầm ấm: Chắc anh em cũng sắp về! Hóa ra, các chiến sĩ đang dở dang công việc khắc phục sau lũ, giúp đồng bào sớm ổn định. Nhìn cử chỉ, ánh mắt của anh Viên, tôi hiểu sự bồn chồn của anh. Người chỉ huy giống như người anh cả trong gia đình, ngoài sự bao quát, quán xuyến là tình thương yêu, tình đồng chí, đồng đội. Được biết, nhiều đồng chí trong đơn vị hoàn cảnh khó khăn, gia đình ở xa, bố mẹ già yếu, con cái còn nhỏ, nhưng được sự động viên của đồng đội, cùng với nghị lực, các anh đã vượt qua khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đoàn kết, gắn bó trong "ngôi nhà chung" này. Quanh khuôn viên doanh trại, đâu đó vẫn ngổn ngang bùn đất, tạm gác lại việc dọn dẹp, các anh dành toàn bộ thời gian và sức lực giúp bà con trước. Dựng lại gian nhà bị sập, xây lại bức tường bị đổ, lợp lại cái mái bị tốc, hoặc đơn giản hơn là dọn dẹp bùn đất ứ đọng để mọi ngõ xóm của bản làng sạch đẹp, đồng bào yên tâm làm nương rẫy. Chẳng thế mà khi hỏi đường vào đồn biên phòng, tiện mua mấy quả dưa ngon, khi trả tiền, bà mế già nhất quyết không chịu nhận. Mế bảo: “Khách của bộ đội cũng là khách của mình mà, không lấy tiền của bộ đội đâu”. Hình ảnh của mế làm tôi nhớ người mẹ già tảo tần và phúc hậu nơi quê nhà. Nhìn mế, tôi thấy cay cay nơi khóe mắt.
Nghe tiếng cười nói vang vọng từ ngoài cổng, biết đoàn công tác giúp dân đã về, vai áo người nào người ấy ướt đẫm mồ hôi, dù đói và mệt nhưng trên gương mặt sạm nắng gió ấy luôn thường trực nụ cười thân thiện. Mọi người về đông đủ cũng là lúc Thượng tá Nguyễn Đình Viên phải đi, xúc tạm thìa cơm ăn lót dạ, anh lại tất tả sang Trường Tiểu học Mường Ải cùng với thầy trò chuẩn bị đón khách từ dưới xuôi lên.
Những tia nắng lọt qua vòm lá xuống sân trường thành những “bông hoa nắng” ngộ nghĩnh, mấy cô cậu học trò chụm đầu vào cuốn truyện tranh vừa được tặng. Thầy Lê Quỳnh Lưu, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Mường Ải vui khi có khách, nhưng thầy vẫn không quên chia sẻ thời khắc kinh hoàng hôm cơn lũ tràn qua. Chỉ tay phía trước, thầy Lưu nói: "Lũ đánh sập toàn bộ dãy nhà làm việc của giáo viên đằng kia, sân trường ngổn ngang cây cối lẫn trong bùn đất và đá thành bãi rác khổng lồ. Nhà trường bị cô lập, ngày khai giảng thì cận kề, các phương tiện cơ giới không thể tiếp cận, lực lượng giáo viên mỏng, khó khăn chồng chất khó khăn...". Rồi thầy Lưu hướng mắt về phía đồn biên phòng, giọng chân tình: "Mọi việc trông cậy vào sự giúp đỡ của cán bộ, chiến sĩ bên đó. Hoạn nạn đã qua, khó khăn cũng được giải quyết, chỉ có tình người là lắng đọng, trường tồn cùng thời gian...".
Chia tay miền biên cương Tổ quốc, lòng tôi lưu luyến vấn vương. Đúng như lời đồng chí Cụt Phò Hớn, Bí thư Đảng ủy xã Mường Ải có lần nói rằng: Ai từng đến đây, ra về đều chếnh choáng hương say. Say ở đây không phải vì chất men của ché rượu cần, mà là say đất, say người, say nụ cười, ánh mắt và tiếng hát, tiếng khèn, tiếng cồng chiêng rộn rã của đồng bào các dân tộc Thái, Kinh, Khơ Mú, H'Mông... Tạm biệt “mái nhà chung”, đi giữa núi rừng trùng điệp, những “sắc xanh” trên ve áo chiến sĩ biên phòng cứ lấp lánh trong nắng thu, đâu đó vang vọng làn điệu dân ca ngọt ngào của đồng bào Khơ Mú: Rừng đẹp trăm hoa rung rinh theo gió, bướm tung cánh bay vờn/ Bên nương ríu rít tiếng cười bao trai gái đang nô đùa/ Đầu sàn có đôi chim cu đua gáy, thách đôi én cùng múa vui…
Bút ký của PHÙNG MINH