Vào một đêm giữa năm 1972 vô cùng căng thẳng, anh Chế được báo có điện thoại của đồng chí Phan Trọng Tuệ (lúc này là Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải). Cầm tổ hợp máy, anh nghe giọng nói trầm ấm nhưng cương quyết của đồng chí Tuệ: “Tất cả chúng ta chiến đấu vì miền Nam ruột thịt, đồng bào Miền Nam đang từng giờ, từng phút chờ ta. Hãy hoàn thành trọng trách của mình, đồng chí trưởng phà nhé”. Anh Chế vừa lo, vừa mừng vì công việc trên bến phà nóng bỏng này cũng là góp sức với đồng bào, chiến sĩ cả nước.
Tháng 11-1972, phà Bến Thủy tắc bảy ngày do máy bay Mỹ ném quá nhiều bom nổ chậm và bom từ trường thế hệ mới. Người Mỹ tinh nhạy cải tiến bom đạn ngày càng hiện đại hơn, nguy hiểm hơn, đứng đầu thế giới. Tin phà Bến Thủy tắc được thông báo cho tất cả chiến sĩ đoàn pháo Phòng thành - đoàn Đống Đa chúng tôi và tin đến cả nhân dân thành phố, cả tỉnh Nghệ An. Phương án dùng các thuyền khử từ (dùng đinh tre thay cho đinh sắt) rà phá không kết quả, Bộ tư lệnh giao thông (đồng chí Phan Trọng Tuệ trực tiếp làm tư lệnh; Thiếu tướng Lê Quang Hòa, sau là Thượng tướng, Chính ủy Quân khu Bốn trực tiếp làm chính ủy) huy động các tàu phóng từ hải quân lướt trên bom liên tục phóng từ kích cho bom nổ. Phóng từ nhiều lần vẫn còn 8 quả lì lợm giấu mặt dưới nước sâu không chịu "lên tiếng". Anh Chế nêu ý kiến dùng phà lớn chạy tốc độ nhanh, lướt trên 8 quả bom với kích từ mạnh buộc bom phải nổ, sức nổ sẽ kích nổ các quả bên cạnh nổ hết. Ông Nguyễn Sỹ Hòa, khi đó là Thường vụ Tỉnh ủy, Phó chủ tịch tỉnh hỏi to: “Ai sẽ là người chỉ huy con phà cảm tử này”. Anh Chế điềm tĩnh, giọng đanh lại: “Báo cáo, tôi là phà trưởng, tôi trực tiếp chỉ huy trên phà”. Anh Chế ra lệnh cho anh em buộc phao bơi thật cẩn thận vì lường trước khi bom nổ sẽ hất các anh ra ngoài sông.
 |
Cán bộ Tiểu đoàn 17 Công binh Quân khu 4 nghiên cứu bom từ trường “Model 2” của giặc Mỹ, tìm cách vô hiệu hóa thứ vũ khí mới gây nhiều cản trở cho ta trên mặt trận bảo đảm giao thông vận tải ở phà Bến Thủy. Ảnh: Phan Xuyến Thanh Đồng
|
15 giờ, lợi dụng thời tiết mùa đông xấu, trời nhiều mây, con phà cảm tử xuất kích. Tiếng máy hai ca nô đẩy cao tốc rồ lên. Lần thứ nhất lướt qua chỉ có con phà rẽ sóng ào ạt. Lần thứ hai vẫn vậy. Lần thứ ba, hai quả bom sát phà nổ, từ trường mạnh cùng với sức nổ kích các quả bom gần như tức thì nổ dữ dội. Những khối nước khổng lồ bùng lên, hai ca nô bị đứt xích cùng cả con phà bị hất tung lên trời. Hai anh công nhân bị sức ép hộc máu vẫn cố gắng lái ca nô đâm vào bờ. Con phà chìm dần xuống, còn lại Nguyễn Đăng Chế bị sức ép rất nặng, nổi bập bềnh trên sông. Điện thoại báo lên tỉnh, trưởng phà Nguyễn Đăng Chế đã chết. Mẹ đẻ và vợ anh khóc ngất. Đơn vị chuẩn bị làm tang cho anh, quan tài, vải liệm đã mang tới. Bất ngờ, đến 1 giờ sáng, Nguyễn Đăng Chế bỗng tỉnh dần. Sự kiên trì hiếm thấy, lòng tin con người ấy chưa thể chết, và nắm chắc chuyên môn nên bác sĩ bệnh viện trưởng bệnh viện đã cứu sống Nguyễn Đăng Chế!
Tinh thần dũng cảm, gan vàng, dạ sắt, sự sáng tạo của anh Chế và đồng đội đã khai thông phà Bến Thủy trong thời điểm quan trọng khi máy bay B52 rải bom liên tục nhiều vùng ở Nghệ An gây sức ép lớn trong việc chi viện cho tiền tuyến. Cũng trong thời gian này, trung đoàn tên lửa Quang Trung (Trung đoàn 260), tiểu đoàn bố trí gần sân bay Dừa, Anh Sơn, Nghệ An đã hạ một chiếc máy bay chiến lược B52. Chiếc máy bay rơi ở trên đất Lào gần biên giới Thái Lan. Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ đã lập một hội đồng khoa học đến tận nơi nghiên cứu và lần đầu tiên công nhận tên lửa SAM 2 bắn rơi máy bay B52 Mỹ (đó là đêm 20-11-1972). Quân chủng Phòng không-Không quân đã tổ chức cho các kíp trắc thủ vào trung đoàn Quang Trung ở sân bay Dừa thực tập, rút kinh nghiệm đánh máy bay B52. Thời điểm đó, cách đêm đầu tiên trận Điện Biên Phủ trên không - Hà Nội chưa đầy một tháng - đêm đầu tiên Mỹ ném bom Hà Nội là ngày 18-12-1972.
Với thành tích nổi bật trong ba năm, nhất là năm 1972, Nguyễn Đăng Chế đã được tỉnh Nghệ An đề nghị làm hồ sơ phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, nhưng Nguyễn đăng Chế một mực từ chối. Anh tâm sự:
“Tập thể bộ đội - công nhân phà Bến Thủy có nhiều tấm gương, có nhiều hành động anh hùng. Vào những thời điểm cam go nhất, anh em bước chân lên phà rời bến đã là hành động anh hùng. Anh Nguyễn Xuân Cử, công nhân lái ca nô, bị pháo biển bắn, cánh tay phải bị xé dập. Anh bình tĩnh lấy tay trái giữ chặt cầm máu. Khi anh ngã xuống vẫn dùng hai chân lái phà đúng bến cho xe lên. Còn 21 anh em bị bom dập, bom vùi. Chính tôi, vào lúc Mỹ đánh phà dữ dội nhất, đã cùng đội mai táng 8 anh em hi sinh. Vừa đắp mộ xong bom nổ lại bị đào tung lên. Tôi ngồi ôm anh em từ 20 giờ đến 24 giờ đêm, có lúc lấy thân người mình che cho anh em mà vẫn chưa mai táng được. Đồng đội tôi còn nhiều người xứng đáng. Họ xứng đáng được phong tặng anh hùng.
... Tôi đi cùng anh trên đường Phượng Hoàng Trung Đô, anh chỉ cho tôi vị trí nghĩa trang lớn bây giờ nhà cửa san sát. Anh Chế rơi nước mắt:
- Không hiểu anh em đã được đưa về đâu - Giọng anh nghẹn lại:
- Tôi đã làm tờ trình gửi nhiều nơi: Bộ Giao thông - Vận tải, các ban, ngành trong tỉnh và cơ quan chính sách quân khu đề nghị cho anh em còn sống gặp lại nhau sau 40 năm, rồi đi tìm, đi thắp hương cho anh em đã khuất mà chưa tổ chức được. Bây giờ nhiều đầu mối quản lý liên quan đến phà. Có cầu rồi, có đường tốt rồi. Đây có dự án làm cầu nữa.
Anh nói như khóc: Giờ có tiền rồi phải chăng người ta quên!…
Anh dắt tôi lên đầu cầu Bến Thủy to đẹp, giọng ngàn ngạt:
- Cái trận địa của chú bảo mạng cho chúng tôi hắn ở mô?
Tôi chỉ cho anh vùng cồn nước, bờ cây. Anh nói giọng bất ngờ vang to:
Cả cái trận địa đó nữa cũng phải là một điểm của vùng di tích.
Điều thú vị từ cuốn sách của một người Pháp
Sau khi nghe tôi trình bày ý định viết một số bài báo về vùng di tích Vinh - Bến Thủy, anh Đậu Kỷ Luật chớp chớp đôi mắt cận nhìn tôi, nói ngay:
- Nên viết, cần phải viết lúc này và cả sau này nữa. Thắng có thế hơn các bạn khác là đã sống ở Vinh lâu, sống ở cái giai đoạn Mỹ đánh Vinh ác liệt nhất, là người yêu Vinh, yêu khu Bốn chân thành và sâu sắc. Mình vẫn nói với anh em trong ni: Khu Bốn bầy choa nhận có hai thằng khu Ba nhập tịch là cậu (Đào Thắng) và Cấn Văn Vọng (Anh Vọng nguyên là Phó cục trưởng Cục Cán bộ, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam), nguyên là chiến sĩ trung đoàn pháo cao xạ 222 ở khu Bốn 17 năm). Nói vậy chứ anh em làm văn, làm báo gắn bó với Vinh, với khu Bốn đông đấy: Bên văn có Mai Ngữ, Đỗ Chu, Triệu Bôn, Hồ Phương, suốt thời bom lửa bám xứ Nghệ, bám Khu bốn. Bên báo có Cao Tiến Lê và Thanh Phong. Thanh Phong suốt những năm chiến tranh ác liệt bám sát địa bàn Nghệ Tĩnh, tuyến lửa khu Bốn. Cao Tiến Lê khi còn là phóng viên Báo Quân khu, sau ra Báo Quân đội nhân dân, còn xông xáo hơn cả bọn mình. Viết nhiều, viết nhanh về con người, chiến công của quân, dân khu Bốn và Lê đặc biệt chú ý đến văn hóa dân ca Xứ Nghệ. Cao Tiến Lê kể rằng, lần ấy qua phà Bến Thủy, bom pháo Mỹ ầm ào trên đầu vậy mà vẫn có một con thuyền cắm sào trên bến phía thượng nguồn. Từ con thuyền ấy vọng đến tiếng ví dặm giận thương rồi tiếng ngâm Kiều. Không phải ngâm một đoạn mà gần nửa quyển Kiều. Tiếng bom pháo dứt đã lâu mà tiếng ngâm Kiều còn vọng mãi. Lê phải nép vào bờ đá núi Cơm tránh bom để nghe Kiều.
Khuôn mặt của Vinh ta nhận diện chủ yếu từ thời chiến tranh chống Mỹ. Khi ấy Vinh đã bị thu hẹp lại nhiều và không còn là tư cách thành phố công nghiệp. Có nhà máy, xí nghiệp đấy nhưng nhỏ bé và chủ yếu phục vụ nội bộ là chính. Sự thực thì từ đầu thế kỷ XX Vinh đã là một trong ba thành phố công nghiệp hàng đầu ở Đông Dương.
Anh đưa tôi lên tầng hai, lại gần một giá sách lớn và lấy một cuốn sách cũ, giở ngay mấy trang đầu. Tính anh vẫn thế “nói có sách, mách có chứng”, khi tôi không còn ở cùng một cơ quan với anh, cái ấn tượng rõ nhất mỗi khi tôi nhớ đến anh là hai cánh tay co gần lại, đầu hơi cúi xuống, vầng trán rộng hơi nhăn lại, hai mắt nheo nheo sát gần trang giấy nhìn cho tỏ. Lát sau anh ngẩng lên ánh mắt như tinh anh hơn.
Tôi mừng rỡ đón sách từ tay anh.
- Sách dịch hả anh?
Anh cười:
- Ông này biết cả tiếng Việt, thạo lịch sử văn hóa xứ mình.
Sách của ông Brét Toh người Pháp. Ông là giáo sư dạy Quốc học Vinh. Cuốn An Tĩnh Cổ Lục.
Anh nói tiếp:
- Đọc Brét Toh ta mới rõ Vinh không phải chỉ như bây giờ của Nghệ An. Nó là xứ Vinh bao gồm cả Nghi Xuân, Đức Thọ (Hà Tĩnh) và Hưng Nguyên (Nghệ An).
Cuốn sách cho biết rõ hơn: Ngày 12-7-1890, Vua Thành Thái ra đạo dụ về việc thành lập sáu trung tâm đô thị vùng Trung Kỳ gồm: Thanh Hoá, Vinh, Huế, Hội An, Quy Nhơn, Phan Thiết. Toàn quyền Đông Dương Pôn Đu-me ký nghị định chuẩn y ngày 30-8-1889.
Ngày 11-3-1914 (15 năm sau) Vua Duy Tân ra đạo dụ thành lập trung tâm thị xã Bến Thủy và toàn quyền Đông Dương ra nghị định công nhận ngày 18-2-1916.
Ngày 28-7-1917, vua Khải Định ra đạo dụ thành lập trung tâm thị xã Trường Thi. Toàn quyền đông Dương An-be Xa-rô ra nghị định công nhận ngày 18 -12-1917.
Và đến ngày 10-12-1927 (mười năm sau), Toàn quyền Đông Dương Mông Ghi-giê đã ký nghị định sáp nhập ba trung tâm đô thị Vinh, Bến Thủy, Trường Thi, thành lập thành phố Vinh - Bến Thủy. Nội thành có diện tích 20km2 với hai vạn dân. Năm 1930, Toàn quyền Đông Dương Pax Ky-ê ra quyết định chia Thành phố Vinh - Bến Thủy thành mười khu phố với tên gọi từ Đệ Nhất đến Đệ Thập, sau cắt thêm phường Bến Thủy thành khu phố thứ mười một.
Bút ký lịch sử của Đại tá – Nhà văn Đào Thắng
Một vùng Trường Thi - Bến Thủy (kỳ 4)
Một vùng Trường Thi - Bến Thủy (kỳ 3)
Một vùng Trường Thi - Bến Thủy (kỳ 2)
Một vùng Trường Thi - Bến Thủy (kỳ 1)
(còn nữa)