LTS: Trong thời đại châu Á đang trở thành “điểm nóng” tăng trưởng kinh tế toàn cầu, Hàn Quốc là một trong những điểm đến thu hút hàng chục triệu người nước ngoài mỗi năm, trong đó có khoảng 45 triệu lượt khách du lịch. Đất nước của nền văn minh sông Hàn không chỉ hấp dẫn bởi phong cách hiện đại với nền kinh tế phát triển năng động mà còn mang đậm nét văn hóa truyền thống phương Đông…

Kỳ 1: Thiên đường du lịch giữa đại dương

 Hành trình từ Hà Nội đến nhiều thành phố lớn của Hàn Quốc đã được rút ngắn đáng kể nhất là từ khi có thêm nhiều đường bay thẳng được mở ra. Chuyến bay thẳng từ Hà Nội đi Xơ-un, thủ đô Hàn Quốc, kéo dài khoảng 4 tiếng đồng hồ. Tranh thủ thời gian trên máy bay, tôi bắt chuyện với một hành khách người Hàn Quốc đã trung tuổi. Khi biết tôi lần đầu tiên đến Hàn Quốc và sẽ nối chuyến đi đảo Jeju, anh Patrick Hwang quả quyết, đó là một hòn đảo tuyệt đẹp, không chỉ có khách du lịch nước ngoài mà bất kỳ người Hàn Quốc nào cũng mơ ước một lần được thăm.

"Hawaii" của châu Á

Đến sân bay Incheon mới gần 5 giờ sáng, trời mưa sụt sùi. Khách làm thủ tục nhập cảnh xếp hàng dài chờ đến lượt thông quan, trong đó có khá nhiều người Việt Nam. Số lượng người Việt đến Hàn Quốc những năm gần đây tăng lên nhanh chóng, kéo theo tần suất các chuyến bay thẳng giữa hai nước gia tăng đáng kể. Anh Patrick Hwang chia sẻ: "Nhiều người trung tuổi ở Hàn Quốc thích đến Hà Nội, từ đó đi các tỉnh phía Bắc để khám phá nét đặc trưng văn hóa. Người trẻ tuổi lại thích đến miền Trung hơn, ví dụ như Đà Nẵng, bởi ở đây có những bãi biển tuyệt đẹp, từ thành phố này cũng có thể đi nhiều địa điểm hấp dẫn khác".

Năm 2012, có khoảng 700.000 khách du lịch Hàn Quốc đến Việt Nam. Ở chiều ngược lại, cũng có hơn 100.000 người Việt du lịch Hàn Quốc. Hai nước đều được xem là thị trường du lịch tiềm năng của nhau, với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, hứa hẹn sẽ có những bước đột phá trong thời gian tới.

Từ sân bay Incheon, chúng tôi di chuyển vào Xơ-un, cách đó khoảng 50km, gần bằng quãng đường từ Nội Bài vào trung tâm Hà Nội, sau đó chuyển tiếp sang sân bay Gimpo để ra đảo Jeju. Khi tiếng loa thông báo máy bay đang giảm độ cao để hạ cánh, tôi kịp quan sát hòn đảo từ trên cao. Trời trong xanh, không một gợn mây. Từ xa cũng có thể nhìn thấy những du thuyền đang lướt trên sóng. Cả hòn đảo được bao phủ bởi màu xanh mướt của cây cối, hiện lên như một viên ngọc bích giữa biển khơi. Đảo Jeju quả thật được thiên nhiên ưu đãi cho khí hậu trong lành, ánh nắng chan hòa. Mùa hè nhiệt độ không quá nóng, cao nhất chỉ ở mức 30 độ C, mùa đông không quá lạnh, nếu ở đất liền có thể xuống -15 tới -20 độ C, thì ở Jeju chỉ khoảng 0 độ C, không có tuyết rơi, nước cũng không bị đóng băng. Có lẽ chính nhờ những món quà của tự nhiên mà hòn đảo này được đặt cho nhiều mỹ từ: Thiên đường du lịch; "Hawaii" của châu Á… Jeju phát triển mạnh ngành “công nghiệp không khói” từ những năm 90 của thế kỷ trước. Trong hơn 20 năm qua, cơ sở hạ tầng trên đảo, đặc biệt là hệ thống giao thông không ngừng được hoàn thiện. Chính quyền nơi đây cũng đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt trong việc bảo vệ môi trường, được xem là một trong những điều kiện quan trọng nhất để phát triển du lịch. Đảo rộng hơn 1.800km2 nhưng dân số chỉ hơn 500.000 người. Đảo không có nhà máy hay khu công nghiệp và tuyệt nhiên không hề thấy rác thải bừa bãi, kể cả những điểm du lịch tập trung đông người.

Dọc theo con đường chạy xuyên suốt đảo Jeju, hai bên cơ man những vườn cam quýt. Dù mùa hè không phải là chính vụ nhưng trên những cây cam vẫn có nhiều quả vàng chín mọng. Trong sự tin tưởng của người Hàn Quốc, cam quýt trồng trên đảo Jeju luôn mang đến chất lượng tốt nhất. Bởi hòn đảo này vốn được hình thành từ nham thạch núi lửa, vì thế đất đai ở đây rất màu mỡ, cộng với thời tiết thuận lợi, chính vì vậy những quả cam ở đây to hơn, mọng nước hơn. Dừng chân tại một vườn cam ngay bên đường, khách du lịch không chỉ được thưởng thức cam tươi mà còn có thể mua rất nhiều đặc sản nổi tiếng chế biến từ cam như bánh cam, sô-cô-la cam, nước cam ép…

Mệnh danh là hòn đảo tình yêu, nơi đây được rất nhiều cặp tình nhân lựa chọn khi muốn lưu giữ những khoảnh khắc yêu đương ngọt ngào, đặc biệt là trong dịp nghỉ tuần trăng mật. Có lẽ cũng vì sự xuất hiện của nhiều cặp uyên ương ở hòn đảo này mà quan niệm về tình yêu của người dân nơi đây dường như cũng cởi mở hơn. Trên đảo có một địa điểm mà hầu như cặp tình nhân nào cũng tìm đến đó là Công viên Tình yêu. Đây là một trong những công viên nói về đề tài tình dục hiếm hoi ở châu Á. Nằm men theo ngọn đồi thoai thoải, khuôn viên bên trong tạo không gian thoáng đãng với những rặng cây xanh mát, hồ nước trong veo. Những bức tượng diễn tả cảnh âu yếm, ái ân ở mọi tư thế cứ lồ lộ giữa thanh thiên bạch nhật, không chút giấu giếm. Du khách đến đây, người thì chép miệng “Sao mà thô tục thế!”, người lại đặc biệt tỏ ra thích thú...

Một góc đảo Jeju nhìn từ trên cao. 

Cũng giống như vịnh Hạ Long, đảo Jeju được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới và mới đây lọt vào 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới. Trên đảo có rất nhiều thắng cảnh, tha hồ cho du khách trải nghiệm, khám phá thiên nhiên. Người thích leo núi có thể đến miệng núi lửa Seongsan Ilchungbong hay đỉnh Hallasan, nơi cao nhất của đảo Jeju. Người ưa cảm giác mạnh thích ngắm nhìn những ngọn sóng bạc đầu vỗ vào ghềnh đá Jusangjeollidae, nơi có nhiều bãi đá tự nhiên tạo thành hình khối kỳ thú giống như gềnh Đá Đĩa ở Phú Yên của nước ta, hoặc tìm đến hang động Manjanggul kỳ bí, hun hút vào lòng đất.

Cách xa đất liền hàng trăm ki-lô-mét, trong suốt chặng đường dài lịch sử, hòn đảo này gần như biệt lập với thế giới bên ngoài. Chính vì vậy, nơi đây có những nét văn hóa truyền thống khá riêng biệt, còn được lưu giữ đến ngày nay. Người dân tại làng Seongeup vẫn sống trong những ngôi nhà có tuổi đời hơn 200 năm tuổi, được xây bằng đá núi lửa, cho dù chỉ cách đó vài con đường là khu trung tâm sầm uất, ken đặc những tòa nhà chọc trời. Họ vẫn làm công việc truyền đời từ hàng trăm năm nay như nuôi ong lấy mật, nấu cao ngựa, ủ trà ngũ vị… Đảo Jeju còn có ngôi chùa Yackcheonsa nổi tiếng, một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất của Hàn Quốc. Chùa cao 28m với những nét kiến trúc đặc trưng, họa tiết, màu sắc trang trí nổi bật trên nền xanh của cây cối. Quần thể kiến trúc của chùa tạo vẻ trang nghiêm, cổ kính, hòa quyện với cảnh sắc xung quanh để tạo nên một không gian tĩnh tại.

Đảm đang bàn tay phụ nữ

Sau một ngày mệt nhoài khám phá thiên nhiên kỳ thú trên đảo, du khách thường tự thưởng cho mình một chai rượu soju (sô-chu), nhâm nhi kèm với món thịt nướng ăn theo kiểu truyền thống Hàn Quốc. Miếng thịt ba chỉ nướng đều vàng hai mặt, gói với lá rau diếp, ăn kèm một ít kim chi để cảm nhận hết vị đậm đà hòa quyện. Trong đời sống ẩm thực của người Hàn Quốc, kim chi có vai trò đặc biệt quan trọng, không thể thay thế. Không chỉ được làm từ cải thảo, mà rất nhiều loại rau củ muối đều được gọi là kim chi. Người Hàn Quốc vẫn thường có câu nói: Cho tôi một đĩa kim chi còn hơn cho một đĩa thịt. Trên mâm cơm của người dân xứ Hàn, có đến hàng chục đĩa nhỏ đựng các loại kim chi, tạo nên một bữa tiệc màu sắc, hấp dẫn và cuốn hút.

Chùa Yackcheonsa trên đảo Jeju.

Cùng với lượng khách du lịch đến đảo ngày một đông, người dân cũng tranh thủ mưu sinh. Tôi để ý đến “gánh hàng rong” của những cụ già, có người đã ngoài 70 tuổi, chuyên bán hải sản tươi sống. Trong văn hóa ẩm thực của người Hàn Quốc, cách thưởng thức hải sản ngon nhất là ăn sống khi còn đang tươi. Vì thế, không ngạc nhiên khi quán hàng ăn đơn giản, chỉ gồm vài bộ bàn ghế nhựa dựng ngay cạnh lối đi nhưng lúc nào cũng đông khách. Cụ bà Kim Jeong Yeon, năm nay đã 71 tuổi, vẫn ngày ngày có mặt tại gềnh đá Jusangjeollidae phục vụ thực khách. Gánh hàng của cụ là những con bào ngư, bạch tuộc, hải sâm tươi rói vẫn đang bơi trong chậu. Dù tuổi đã cao nhưng cụ còn rất nhanh nhẹn, bàn tay thoăn thoắt thái những miếng hải sản đều tăm tắp, xếp gọn gàng lên đĩa. Một điểm đặc biệt, không chỉ bán hàng, cụ Kim Jeong Yeon còn là một thợ lặn thứ thiệt. Mang bộ đồ lặn bó sát, kính che mặt, ống thở, cụ hòa mình vào nước biển xanh, vài phút sau trên tay đã tóm gọn một chú bạch tuộc. Công việc lặn biển dù vất vả, nguy hiểm nhưng tại đảo Jeju chỉ có phụ nữ làm nghề này, tuyệt nhiên không thấy bóng dáng đàn ông. Ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh suốt một giai đoạn lịch sử dài đã khiến đàn ông trở thành “mì chính cánh” trên đảo. Vì thế không chỉ nghề lặn biển bắt hải sản, nhiều công việc khác trên đảo chủ yếu do bàn tay phụ nữ đảm nhận.

Nghề lặn biển là một trong những nghề truyền thống lâu đời của người dân trên đảo Jeju nhưng đang đứng trước nguy cơ thất truyền. Mức độ nguy hiểm cao, nặng nhọc trong khi thu nhập không đáng là bao đã khiến những cô gái trẻ không mặn mà với công việc này. Cũng như nhiều đất nước châu Á khác, đảo Jeju nói riêng và đất nước Hàn Quốc nói chung đang phải đối mặt với nguy cơ mất đi những nét văn hóa đã in sâu vào đời sống người dân qua nhiều thế hệ. Thúc đẩy nền kinh tế hiện đại đi cùng với giữ gìn những giá trị truyền thống cần phải luôn song hành trên bước đường phát triển của bất kỳ dân tộc nào.

Bài và ảnh: ĐỖ MẠNH HƯNG