LTS: “Dân mới là người giữ biên giới, dân giàu thì biên giới mới vững”- đó là tư tưởng chỉ đạo suốt 25 năm qua của Binh đoàn 15 khi được Đảng, Nhà nước, Quân đội giao nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với quốc phòng – an ninh trên dải biên giới Tây Nguyên hùng vĩ. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân vừa về Binh đoàn tìm hiểu những kinh nghiệm phát triển kinh tế gắn với giải quyết các vấn đề xã hội, chăm lo đời sống, việc làm cho công nhân làm cơ sở xây dựng tiềm lực quốc phòng an ninh trên địa bàn biên giới.  

Bài 1: Tạo điều kiện cho công nhân làm giàu

Theo chân những người lính làm kinh tế kết hợp với quốc phòng thuộc Binh đoàn 15 đến các xã thuộc huyện Đức Cơ, Ia Grai, Chư Prông, Ngọc Hồi, Sa Thầy của tỉnh Gia Lai, Kon Tum, điều làm chúng tôi hết sức bất ngờ là công nhân và người lao động các dân tộc ở đây đã có sự thay đổi mạnh mẽ về nếp nghĩ, phương thức làm ăn, đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần được nâng lên đáng kể.

Những người quen thức khuya, dậy sớm

Quyết định thành lập từ ngày 20-2-1985, nhưng đến ngày 24-4 cùng năm, Binh đoàn 15 mới chính thức ra mắt. Địa bàn đứng chân là một khu vực rộng lớn ở Tây Nguyên nối liền với ba con đường: Đường 14 và Đường 19 kéo dài đến biên giới Cam-pu-chia, Đường 18 đi A-tô-pơ, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Từ ngày ấy, những người lính trong đội hình Binh đoàn lại tiếp tục gánh chịu những khó khăn gian khổ ở vùng đất giàu tiềm năng, nhưng vẫn còn bộn bề gian khó. Họ không chỉ phải đương đầu với những hy sinh gian khổ, mà công việc buộc họ phải “thức khuya, dậy sớm”. Chặng đường 25 năm, người lao động Binh đoàn vẫn một nếp cũ “thức khuya, dậy sớm”. Và hôm nay, những người công nhân là đồng bào dân tộc thiểu số, dù ở cương vị nào vẫn tiếp tục công việc như vậy…

Một góc làng công nhân đồng bào dân tộc thiểu số thuộc xã Ia Khai, huyện Ia Grai. Ảnh: Đặng Trung Hội

Người đầu tiên mà chúng tôi gặp tại trạm thu mủ cao su Công ty 715 là anh Rơ Lan Đíh,  32 tuổi, ở làng Tung Chúc, xã Ia Khai, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Anh vào làm công nhân cạo mủ cao su thuộc Đội 3, Công ty 715, Binh đoàn 15 đã được  hơn 4 năm. Tuy nói tiếng phổ thông còn chưa được sõi, anh vẫn hào hứng tiếp chuyện chúng tôi. Anh  kể:

- Mình đi cạo mủ cao su từ 1 giờ đêm, đến 6 giờ sáng. 10 giờ thì mình đi thu mủ. Nộp kho xong mình mới về nghỉ, mai lại đi tiếp. Ngày nào cũng thế.

Tôi gợi chuyện:

- Bọn mình vừa vào nhà Đíh, chỉ thấy có mấy tấm bằng khen treo trên tường. Nghe con Đíh nói, bằng khen của vợ chồng Đíh nhiều lắm, cái tường không còn chỗ để treo.

Đíh cười xòa:

- Ồ nhiều lắm. Vợ mình nó bảo cất bớt cái cũ, dành chỗ để treo cái mới. Mình cũng bận, vợ mình cũng bận, nó làm Hội trưởng Hội Phụ nữ xã, vẫn dậy sớm chăm vườn cao su của nhà, rồi mới ra xã. Con thì đi học…

- Có người nói, hồi chưa vào công ty, Đíh suốt ngày uống rượu, đi làm thì muộn?

- Ngày ấy không có việc. Bây giờ mình là công nhân trồng cây cao su. Cây cao su  phải cạo đêm mới ra nhiều mủ. Làm được nhiều tiền, dậy đêm không ngại đâu. Từ ngày vào làm công nhân cả làng mình dậy sớm, mang theo đèn, đông vui lắm.

- Mỗi tháng Đíh được bao nhiêu tiền lương? 

- Năm nay, bình quân mỗi tháng cũng được 5 triệu đồng, có tháng hơn. Năm trước, thấp hơn thì cũng được 4 triệu đồng... Lương mình chưa cao đâu. Có đứa làm giỏi, được 12-13 triệu đồng/tháng cơ. Ngày chưa vào công nhân làng mình đói lắm, quanh năm thiếu ăn, chả nhà ai có tiền. Thế mà bây giờ nhiều người mua két đựng tiền đấy, rồi gửi tiền tiết kiệm nữa. Thằng Rơ Lan Ginh cạnh nhà mình, làm công nhân ở đội 3, còn mua được cả xe ô tô.

Đến các công ty khác thuộc Binh đoàn 15, ra tận vườn cao su trò chuyện với công nhân đang làm việc chúng tôi đều nhận thấy, tuy công việc vất vả, phải làm từ nửa đêm, đòi hỏi tay nghề kỹ thuật cao, nhưng ai cũng gắn bó với công việc. Họ đi làm mà hồ hởi, trò chuyện vui vẻ, cười nói rôm rả như đi hội làng. Và nữa, rất nhiều cặp vợ chồng, thậm chí cả bố, con, anh, em và hầu hết là người cùng làng làm công nhân trong một đội sản xuất. Cuộc sống ở dải đất vùng biên này thật thanh bình.

Anh Võ Hoàng, cán bộ dân vận thuộc Ban Dân vận tỉnh ủy Gia Lai rất tâm đắc với nếp làm việc mới của của các hộ dân đồng bào dân tộc thiểu số là công nhân của Binh đoàn 15. Anh bảo:

- Từ ngàn đời đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh tôi chung một nếp sống tự do, làm muộn, về sớm, ưng cái bụng thì làm, không ưng thì nghỉ. Nhất là những hộ theo đạo Tin lành, một tuần dành 2 ngày cuối tuần đi nhà thờ, mà nay trở thành công nhân Binh đoàn 15, được như thế thì đúng là hơn cho vàng, cho bạc.

Đại tá Nguyễn Minh Đức, Phó chủ nhiệm Chính trị Binh đoàn đỡ lời:

- Nói chính xác hơn là công việc, lợi ích kinh tế “quyến rũ” đồng bào thức khuya dậy sớm.

Những “bàn tay vàng”

Vườn cao su nào cũng phẳng phiu sạch sẽ như một tấm thảm lớn, cả ngày râm mát. Cây cao su hàng ngang, hàng dọc thẳng tăm tắp như đội quân tiêu binh, mỗi cây đeo bên mình một bầu sữa, tỏa ra hương thơm thoang thoảng…

Có được vườn cao su đẹp như vậy, không hề đơn giản chút nào. Cả ba giai đoạn: Trồng, chăm bón và khai thác mủ cao su đều đòi hỏi kỹ thuật rất cao. Ví dụ như khai thác mủ cây cao su, phải cạo mủ (rạch vỏ cây cho nhựa chảy ra) vào ban đêm, vết rạch đầu tiên trên thân cây cao su ở chiều cao không quá 1,3m; bề rộng, chiều sâu của vết rạch được tính chính xác tới mi-li-mét, sâu quá vào thân cây thì cây bị sùi, năm sau không cạo được nữa, nông quá thì chưa đến lớp nhựa ra. Ngày hôm sau lại rạch một vệt mới, sát với vết của ngày hôm trước. Sau một năm rạch đến sát gốc cây. Theo quy trình ấy, những năm sau rạch trở lại vết đầu tiên… Cứ như thế, sau khoảng 25 năm đốn cây cao su đi trồng lại cây mới. Đây là công việc đòi hỏi chi tiết, cẩn thận, khéo léo.

Lâu nay, đồng bào các dân tộc không quen với kỹ thuật trồng trọt, nên mảnh đất Tây Nguyên màu mỡ, trù phú, thời tiết, thổ nhưỡng đặc biệt phù hợp cho trồng cây cao su mà vẫn để đất hoang, hoặc trồng những cây kinh tế thấp. Nhiều năm trước, cái đói cái nghèo cứ đeo đẳng, hằng năm người dân ngồi chờ Nhà nước trợ cấp. Không có công ăn, việc làm, đời người mòn mỏi theo những hủ tục lạc hậu… Từ ngày Binh đoàn 15 về phát triển vườn cao su, đất Tây Nguyên trở nên “đất vàng”. Người Tây Nguyên đang từng bước làm chủ vườn cây cao su trên quê hương mình và ngày một nhiều những “bàn tay vàng” cạo mủ cao su là người đồng bào các dân tộc.

Về Công ty 72, chúng tôi đi thẳng đến Đội sản xuất 711. Ở đây 100% công nhân đều là người đồng bào dân tộc Jrai. Đội phó Rơ Lan Pin, sinh năm 1979, ở làng Chan, xã Iapnôn, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai dẫn tôi ra xem “vết cạo vàng” của Ksor Găn. Đúng là những cây cao su do Ksor Găn cạo vừa mịn màng, vừa đều tăm tắp. Lúc ấy là 8 giờ 30 phút sáng mà nhựa cao su ở các cây Ksor Găn cạo đã chảy ra gần đầy bát, gấp rưỡi cây người khác cạo. Một lúc sau thì Ksor Găn chạy lại, quần áo bám đầy nhựa cây, giầy lẫn vào đất đỏ ba-zan. Tôi nắm bàn tay Ksor Găn, gật đầu cảm phục tài năng của anh. Ksor Găn kể:

- Mỗi ngày mình cạo được 390 cây, nhưng chưa nhất đâu, thằng Ksor Bé cạo được 450 cây cơ. Lương của nó 14 triệu đồng/tháng đấy.

Khi chúng tôi đang viết bài này thì Đội phó Rơ Lan Pin gọi điện,  hãnh diện thông báo:

- Hôm nay (9-11) mình thi xong “bàn tay vàng” cấp công ty rồi. Đội của mình đạt giải nhất đồng đội, được hơn 70 triệu đồng tiền thưởng đấy.

- Những ai đạt giải? – Tôi hỏi.

- Rơ Lan Diên đạt giải nhì; Ksor Găn đạt giải ba; còn Rơ Lan Lum đạt giải khuyến khích. Nhà báo ghi số máy của tao lại cần gì gọi thêm nhé. Tôi cám ơn rồi lưu lại số máy của Pin: 01662205178.

Tuyển thủ Quách Văn Tới, công nhân Công ty 75 đạt "Bàn tay vàng" năm 2010 Binh đoàn 15. Ảnh: Lê Quang Hồi

Đại tá Chu Thế Võ, Giám đốc Công ty 72 quê ở Kiến Xương, Thái Bình, là một trong những cán bộ gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên này từ hơn 30 năm trước. Anh có khá nhiều kinh nghiệm “vực” tay nghề công nhân đồng bào dân tộc. Anh kể, “thi bàn tay vàng” chọn người cạo mủ cao su giỏi, được tổ chức hằng năm rất bài bản, thi chọn từ tổ sản xuất lên đến binh đoàn. Công ty tổ chức thi mỗi năm một lần, những ai đạt giải nhất được cấp giấy chứng nhận và thưởng 30 triệu đồng, giải thấp nhất cũng 10 triệu đồng; cấp binh đoàn, 2 năm một lần, giải còn cao hơn và thông thường năm sau cao hơn năm trước. Đây là một trong những hình thức khuyến khích công nhân, nhất là công nhân đồng bào dân tộc địa phương thi đua học tập rất có hiệu quả.

Dừng một lát, anh Võ nhấn mạnh:

- Hướng dẫn đồng bào làm ăn vất vả và kỳ công lắm, đòi hỏi phải rất kiên trì. Phải thương đồng bào, phải hiểu đồng bào và phải thấy rằng, tạo cho đồng bào có cuộc sống khá giả mới chính là kế sách bảo vệ biên giới về lâu dài. Nghèo đói thì chẳng ai yên tâm, ngược lại no đủ giàu có, ai cũng sẽ gắn bó với mảnh đất này. Chân lý đơn giản thế thôi.

- Tôi hiếm thấy có cuộc thi nào mà giải thưởng lại cao đến thế?

Vẫn anh Võ giải thích:

- Không phải “ném tiền qua cửa sổ đâu” Binh đoàn suy tính nhiều lắm mới quyết định. Binh đoàn ví “thi thợ giỏi” tìm bàn tay vàng như một đòn bẩy, tác động vào tâm lý, vào tinh thần hăng say lao động, hăng say sáng tạo, hăng say tìm tòi, hăng say học hỏi trong công nhân người lao động dân tộc thiểu số (đây cũng vốn là điểm yếu của đồng bào). Giải thưởng cao, giống như đòn bẩy dài – càng dài càng khỏe. Tâm lý đồng bào không thích nói nhiều, cũng ngại nghe lý luận, triết lý, chỉ quen làm việc cụ thể.

Ra thế. Chúng tôi được lãnh đạo Binh đoàn “bật mí”, sang năm trị giá giải nhất “bàn tay vàng” cấp Binh đoàn sẽ còn cao hơn gấp rưỡi năm nay.

Lương hơn 10 triệu đồng/tháng

Trước khi đi cơ sở, đến làm việc với Tỉnh ủy Gia Lai, đồng chí Nguyễn Quốc Khánh, Phó ban Dân vận tỉnh, vừa hồ hởi bắt tay mọi người, vừa nói: “Nghe giám đốc Công ty 74 Binh đoàn 15 báo cáo lương công nhân đồng bào dân tộc thiểu số cao nhất là 13 triệu đồng/tháng chúng tôi ngỡ ngàng. Công ty cho chúng tôi xem bảng lương, rồi đưa đến gặp công nhân, lại càng bất ngờ hơn, vì không phải một, mà có hàng trăm người lĩnh mức lương hơn 10 triệu đồng/tháng. Người thấp cũng 3 triệu đồng/tháng. Thật là sự đổi đời, nằm mơ cũng không ai nghĩ tới. Do có cuộc sống ổn định, ai cũng gắn bó với công ty, gắn bó với nơi chôn nhau cắt rốn của họ”.

Mang chuyện này hỏi Đại tá Trần Quang Hùng, Giám đốc Công ty 74, anh cho biết, không chỉ các công ty trồng cây cao su, mà toàn Binh đoàn 15 hoạt động theo đúng Luật Doanh nghiệp. Lương của công nhân được trả theo đúng sản phẩm mà họ làm ra. Bên cạnh người có lương hơn 10 triệu đồng/tháng, cũng có người mới chỉ được 3 đến 4 triệu đồng/tháng, thậm chí cá biệt có tháng thấp hơn. Đó là do trình độ tay nghề của mỗi người. Quan điểm của Binh đoàn là tập trung hướng dẫn, dạy cách làm cho công nhân, tạo điều kiện cho công nhân tiếp thu kỹ thuật, tăng năng suất, tăng thu nhập. Lương được tính theo đúng năng lực, trình độ của họ. Đó cũng là động lực để thúc đẩy mọi người ra sức học tập, nâng cao tay nghề.  

Chúng tôi đã dành nhiều thời gian đến các vườn cao su của các công ty trong Binh đoàn. Đang mùa thu hoạch, những cánh rừng luôn đầy ắp tiếng cười, râm ran câu chuyện về giá, về năng suất mủ, về lương… Khuôn mặt người lao động rạng ngời trong nắng sớm. Gặp vợ chồng A Vân, người dân tộc Ka Dong, công nhân thuộc Đội 11, trên đường đi làm về. Đôi vợ chồng trẻ đèo nhau trên chiếc xe gắn máy mới cứng. Đại úy Bùi Mạnh Dũng, Đội trưởng Đội 11 nói với chúng tôi:

- Công nhân giờ đi làm bằng xe gắn máy. Hầu hết đều có hai xe, một xe cũ để chở mủ, một xe mới để đi chơi. Xong việc là thay đồ, thay xe, cứ như đi hội làng về.

Vợ chồng A Vân mời chúng tôi vào ngôi nhà mới xây ven đường, A Vân khoe với chúng tôi:

- Nhà mình mới xây, hơn 100 triệu đồng đấy. Mình chỉ xây đủ ở thôi, còn dành tiền để làm việc khác.   

- Lương tháng của vợ chồng A Vân được bao nhiêu? - chúng tôi hỏi.

- Mình tính theo thu nhập hằng năm thôi, mỗi năm làm công ty được hơn trăm triệu đồng, còn thu nhập thêm từ kinh tế hộ nữa…

Đang vui câu chuyện với vợ chồng A Vân, thì già làng A Phú tới, cười rung chòm râu bạc, tay chỉ vào A Vân, già nói:

- Thằng A Vân giỏi lắm, nó không chỉ giỏi cái chân, cái tay; mà giỏi cả cái đầu biết suy nghĩ, biết tính toán làm ăn. Một tấc đất nó cũng không để hoang, nó bắt đất đẻ ra tiền. Chỗ trũng nó đào ao nuôi cá; rừng cao su mới trồng, nó biết xen canh cây sắn, cây đậu…

Còn nhiều và rất nhiều những công nhân giỏi làm ăn, từ chỗ xóa nghèo đang từng bước làm giàu ngay trên mảnh đất quê hương mình như A Vân, như Díh, như Ksor Bé, như Rơ Lan Pin…

Binh đoàn 15 đã, đang tạo mọi điều kiện để công nhân người dân tộc thiểu số tại chỗ có cơ hội xóa nghèo, làm giàu. Tính đến nay, 7 khu kinh tế quốc phòng Binh đoàn đã thu hút được hơn 8.000 hộ/13.788 lao động, trong đó có hơn 8.200 lao động là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Binh đoàn trích trong lợi nhuận hằng năm để phát triển mới 8 cụm dân cư, xây dựng mới 12 làng định canh, định cư. Ba mục tiêu đặt ra của Binh đoàn đã được từ gần 5 năm nay: Không có hộ nghèo; Không có hộ bị kích động tham gia biểu tình; Không có người vượt biên. Đúng như Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng khi về thăm Binh đoàn (năm 2003) đã nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn: “Để giữ được biên giới, thì trước hết phải giữ được dân, lo cho dân. Dân giàu là biên giới yên…”. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng, Binh đoàn đặt lên nhiệm vụ hàng đầu, giúp dân biết làm giàu ngay trên mảnh đất quê hương mình.

 Phúc Nguyên, Huy Thiêm Đặng Trung Hội

Bài 2: Ngày càng quan tâm chất lượng cuộc sống