QĐND - Cao Sơn Pháo, tên thật là Bùi Như Tùng, thường gọi là Bùi Tùng, sinh năm 1919 tại làng Thái Sơn, xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam. Là một chiến sĩ cộng sản kiên trung, cuộc đời hoạt động cách mạng của ông luôn gắn liền với những sự kiện lịch sử của tỉnh nhà và câu chuyện tình son sắt với người vợ kiên trung.
Ý nghĩa từ những tên gọi...
Gia đình Bùi Như Tùng là một trong những gia đình giàu truyền thống cách mạng. 8 anh chị em của ông đều có tinh thần yêu nước. Thuở thiếu thời, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên vừa đỗ bằng Sơ học yếu lược, Bùi Như Tùng phải nghỉ học để phụ giúp gia đình. Lúc còn học ở trường làng Châu Bí, được người thầy giáo yêu nước là Nguyễn Thuyên tuyên truyền, vận động vào Hội thanh niên dân chủ. Giữa năm 1938, Bùi Như Tùng và thân sinh phải bôn ba vào Sài Gòn để làm thuê kiếm sống. Nhưng sau đó ông về lại quê hương, hăng hái tham gia các phong trào cách mạng ở địa phương và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) ngày 3-6-1940, tại khu Mã Vôi, phủ Điện Bàn, rồi làm Bí chi bộ Mã Lai.
Ông Bùi Chính Cương là con trai duy nhất của Cao Sơn Pháo nói: “Chú Nguyễn Xuân Hữu, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam hay kể cho tôi nghe chuyện hoạt động cách mạng của các chú và ba tôi. Chú nói: Trong những ngày đầu hoạt động cách mạng khoảng từ năm 1939 đến năm 1942, chú, ba tôi và một số đồng chí ở Điện Bàn đã về Trà Lộ, Tân Lưu, An Nông (huyện Hòa Vang) để mở lớp dạy học tuyên truyền và xây dựng cơ sở cách mạng. Trong quá trình hoạt động, để tránh bị lộ, mỗi người tự lấy một tên gọi, bí danh để thuận lợi hoạt động. Ba tôi lấy tên một làng, địa danh là Cao Sơn để đặt mật danh cho mình (làng Cao Sơn thuộc xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang, quê ngoại của ba tôi). Còn vì sao có tên Pháo? Theo chú Nguyễn Xuân Hữu kể lại vì ba tôi tính tình thẳng thắn, nói năng bôm bốp như pháo nổ, nên mọi người đặt cho tên là Pháo. Tên gọi Cao Sơn Pháo ra đời từ đó”.
 |
|
BCH Phủ ủy Điện Bàn năm 1945 (Cao Sơn Pháo, người ngồi thứ hai, từ trái sang). Ảnh tư liệu.
|
Sau Cách mạng Tháng Tám, Cao Sơn Pháo làm Bí thư Phủ ủy Điện Bàn. Đại hội Đảng bộ Quảng Nam-Đà Nẵng lần thứ hai tháng 2-1950, tại Bà Bầu, Tam Kỳ ông được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy. Đối với vợ chồng Cao Sơn Pháo-Nguyễn Thị Nhạn, thì đây là sự kiện không thể nào quên, vì tại đại hội này hai người đã thành vợ thành chồng.
Sau Đại hội Đảng bộ, Cao Sơn Pháo và Nguyễn Thị Nhạn về quê Điện Tiến tổ chức đám cưới dưới sự chủ trì của “ông mối” đầy nhiệt tình Lê Bình, Phó b thư Tỉnh ủy. Một đám cưới thân tình, vui vẻ và bình dị như bao nhiêu đám cưới khác thời kháng chiến tại miền quê Điện Bàn. Đôi tân hôn không được hưởng tuần trăng mật, chàng rể khẩn trương trở về vị trí công tác với trách nhiệm nặng nề hơn.
Đầu năm 1951, Cao Sơn Pháo được cử đi học trường chính trị cao cấp ở Trung Quốc. Trước khi chia tay vợ để đi học xa, ông có dặn bà rằng: “Nếu sinh con trai thì đặt tên là Bùi Chính Cương, nếu con gái thì đặt tên là Bùi Thị Lệ (Chính Cương là Chính cương của Đảng, Lệ là Điều lệ Đảng, ngụ ý là các con phải một lòng theo lý tưởng cách mạng của Đảng). Ngày 8-3-1952, bà sinh được đứa con trai (là tôi), lúc đầu không đặt theo ý của ba tôi mà đặt tên là Chinh Chiến, bởi vì lúc này cả nước đang bước vào cuộc trường chinh chống thực dân Pháp xâm lược, mặt khác đặt tên như vậy để tránh sự chú ý, theo dõi của mật thám Pháp. Mãi đến khi tôi được cử đi học ở Liên Xô (năm 1962) mẹ tôi mới lấy lại tên cho tôi là Bùi Chính Cương". Đó là những ký ức vô cùng xúc động của ông Bùi Chính Cương về người cha kính yêu.
Mười Nhạn - Một tấm lòng kiên trung...
Nguyễn Thị Nhạn, bí danh Mười Nhạn, sinh 15-10-1931 tại xã Điện Thọ, huyện Điện Bàn, tham gia cách mạng từ tháng 5-1945 đến năm 1948, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, làm Bí thư Chi bộ rồi Hội phó Phụ nữ xã Điện Tiến.
Năm 1951, Cao Sơn Pháo được cử đi học trường chính trị cao cấp ở Trung Quốc, đến năm 1953 mãn khóa học về nước. Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, Cao Sơn Pháo được bố trí trên chuyến bay của Ủy ban Liên hiệp đình chiến về Liên khu 5. Trong thời gian chồng đi học xa, Mười Nhạn một mình nuôi con nhỏ tiếp tục hoạt động cách mạng.
 |
| Ông Cao Sơn Pháo và vợ Nguyễn Thị Nhạn. Ảnh tư liệu. |
Tháng 8-1954, Tỉnh ủy Quảng Nam được củng cố lại, Cao Sơn Pháo được phân công ở lại miền Nam, còn Mười Nhạn được lệnh ra Bắc trong chuyến đi cuối cùng, nhưng không lo liệu kịp nên vẫn được bố trí sinh hoạt đơn tuyến tại xã Điện Thọ. Tuy ở lại nhưng mỗi người một nhiệm vụ, nên hai người lại không được ở gần nhau.
Biết rõ Mười Nhạn là vợ của Phó bí thư Tỉnh ủy Cao Sơn Pháo nên địch cho đây là đối tượng nguy hiểm, nên bà luôn nằm trong tầm ngắm của chúng. Tháng 7-1955, bà bị địch bắt, lúc này Bùi Chính Cương mới hơn 3 tuổi, được gửi cho người thân chăm sóc. Sau khi bắt được Mười Nhạn, chúng xiềng bà chung với đồng chí Phan Hy một xiềng và dùng nhiều thủ đoạn tra tấn vô cùng dã man.
Địch tra tấn dã man, nhưng Nguyễn Thị Nhạn vẫn giữ vững khí tiết cách mạng, không một lời khai báo. Chúng điên cuồng hỏi:
- Giấu Cộng sản ở đâu?
- Cao Sơn Pháo ở đâu?
Cực hình tra tấn của địch đã cướp đi đứa con trong bụng mới hơn hai tháng tuổi. Rồi sau đó, bà nghe tin chồng mình đã hy sinh. Nỗi đau chồng lên nỗi đau. Đến tháng 9-1959, sau nhiều lần bị địch tra tấn, đánh đập dã man, Nguyễn Thị Nhạn mới được thả.
Sau khi ra tù, Mười Nhạn tiếp tục bắt nối với cơ sở cách mạng và sinh hoạt ở chi bộ Giáng La do Phan Là làm Bí thư. Chi bộ được củng cố, phong trào được phục hồi nhanh chóng. Phan Là, Mười Nhạn, Phan Thảng đã trở thành chỗ dựa tin cậy của xã, của huyện, là nơi nuôi giấu cán bộ ở trên về công tác để sát dân, sát phong trào, chỉ đạo nổi dậy phá “ấp chiến lược”, diệt tề, làm liên lạc cho huyện ủy, tỉnh ủy…
Năm 1961, Tỉnh ủy cho con trai độc nhất là Bùi Chính Cương ra miền Bắc để học tập. Trên đường đi bị lộ, một lần nữa Nguyễn Thị Nhạn lại bị bắt và bị địch tra tấn dã man. Đầu năm 1962 được thả về, Nguyễn Thị Nhạn được tổ chức bố trí cho thoát ly lên chiến khu.
Thoát ly ra vùng giải phóng, bà được Huyện ủy Điện Bàn phân công làm công tác tuyên huấn, tổ chức, công tác đấu tranh chính trị… Thời kỳ chuẩn bị cho chiến dịch lịch sử Xuân Mậu Thân-1968, đồng chí Hồ Nghinh-Bí thư Đặc khu ủy Quảng Đà ký quyết định điều động bà Nguyễn Thị Nhạn lên tỉnh, phân công về “ban đấu tranh chính trị”, chuyên trách công tác nội thành Đà Nẵng.
Từ năm 1972, Nguyễn Thị Nhạn được bầu bổ sung vào Đặc khu ủy Quảng Đà, làm Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ Đặc khu Quảng Đà. Sau ngày quê hương giải phóng, bà tiếp tục được bầu làm Tỉnh ủy viên Quảng Nam-Đà Nẵng và nghỉ hưu năm 1990.
Ký ức về người cha
Tháng 8-1954, Cao Sơn Pháo được bổ sung vào Tỉnh ủy Quảng Nam và làm thành viên của Ủy ban Liên hợp đình chiến của Liên khu 5. Trong thời gian này, ngoài hướng dẫn, phổ biến cho cán bộ và nhân dân về phương pháp đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, tham gia cùng với Tỉnh ủy chuyển cơ quan về căn cứ, sửa soạn cho một thời kỳ mới của cách mạng với bao thử thách, khó khăn.
Ngày 13-8-1956, qua thám báo, địch phát hiện ra nơi đóng cơ quan Tỉnh ủy tại dãy núi Đại An, Tây Nam xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc. Lập tức, chúng cho một toán quân gồm một chục tên thám báo, an ninh, dân vệ của xã Lộc Chánh, cải trang thành một nhóm người đi củi để vào căn cứ tìm cách vây bắt. Trong đợt vây ráp này, đồng chí Cao Sơn Pháo lọt vào vòng vây địch, bị chúng dùng đòn xóc, báng súng đánh đập cho đến lúc bất tỉnh và bị trói chặt đưa về trụ sở Hội đồng xã Lộc Chánh. Sau một ngày đêm bị bọn ác ôn xã Lộc Chánh dùng hết thủ đoạn này đến thủ đoạn khác để khai thác, đồng chí vẫn giữ trọn khí tiết. Sau đó chúng đưa về quận Đại Lộc để tiếp tục khai thác. Mặc dù tên quận trưởng dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc nhưng cũng đều thất bại trước khí phách hiên ngang, những lời vạch mặt, buộc tội đanh thép của Cao Sơn Pháo đối với bọn tay sai. Không khai thác được gì, ngày 14-8-1956, địch sát hại ông tại cầu Chánh Cửu, rồi kéo về trụ sở Hội đồng xã Lộc Chánh, phơi xác dưới chân cây cột cờ ba que và cấm không ai được đem chôn.
“Sau khi ba hy sinh được 5 năm, tức là vào khoảng mùa hè năm 1960, vừa ra tù mẹ tôi tổ chức bốc mộ cho ba lần thứ nhất, cũng là lần phải tìm kiếm công phu vất vả nhất. Từ Lộc Chánh (xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc), hài cốt của ba được đưa về Diệm Sơn. Năm 1977 đưa về Nghĩa trang Liệt sĩ Điện Bàn. Khi cất bốc hài cốt của ba tôi, thì phát hiện một hành động đê hèn của kẻ thù: Sau khi sát hại ba tôi, thi hài của ông bị chúng chôn sấp, nằm úp xuống đất” ông Bùi Chính Cương xúc động kể.
Về cậu bé Bùi Chính Cương-năm xưa, nay đã ngoài 60 tuổi, vừa được nghỉ hưu. Tiếp chuyện chúng tôi, ông nói: “Hồi đó, những chuyện xảy ra ở làng Giáng La, tôi còn nhỏ quá, không nhớ nổi. Mẹ tôi cũng nói lại, tôi chẳng có mấy ngày gần người cha. Sau đó lớn lên, tôi được gửi ra Bắc, rồi đi học ở Liên Xô. Sau ngày đất nước thống nhất, tôi mới biết được những đóng góp cống hiến của cha mẹ tôi trong những ngày tháng chiến chinh”.
LÊ NĂNG ĐÔNG