Bài 4: Trong tù không ngơi việc học
QĐND - Với những kiến thức được học trong tù, nhiều người tù ở các trại giam Tân Hiệp (Biên Hòa), Phú Quốc đã hoàn thành được chương trình học, hàng nghìn người không biết chữ đã đạt trình độ lớp 6, lớp 7, nhiều người sau này đã thi đỗ vào các trường đại học…
Gặp vị “Giáo sư thứ hai" ở miền Bắc
Chúng tôi tìm gặp bác Nguyễn Văn Chiển, nguyên Phó ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, nguyên cựu tù Phú Quốc, người thầy giáo vẫn được anh em trong các trại giam Tân Hiệp, Phú Quốc gọi với tên đầy thân thương “Thầy Thu”. Trước khi vào chiến trường miền Nam năm 1964, bác Chiển là giáo viên dạy Toán, đồng thời là hiệu trưởng Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, Nam Định. Trò chuyện với chúng tôi, bác Chiển như được sống lại không khí của một thời dạy học say mê, sôi nổi trong tù năm nào. Những ký ức ùa về như một thước phim quay chậm, bác nhớ lại:
- Năm 1966, tôi bị bắt sau trận càn của quân ngụy vào khu căn cứ của ta ở Củ Chi. Chúng hỏi rất nhiều về khu cán bộ của ta ở Sài Gòn-Gia Định nhưng tôi chỉ nhận mình là giáo viên người miền Bắc, vào đây để làm công tác giáo dục, tổ chức dạy học văn hóa ở vùng giải phóng. Biết tôi là trí thức nên phóng viên các tờ báo như AP, AFP, Roi-tơ… đến phỏng vấn rất đông. Một tên lính Mỹ gốc Phi hỏi tôi: “Tại sao ở miền Bắc đang hòa bình, yên ấm như thế ông lại vào đây?”. Tôi khảng khái trả lời lại chúng rằng: “Điều ấy tôi phải hỏi lại các ông đang ở nước Mỹ xa xôi như thế, tươi đẹp và giàu có hơn Việt Nam rất nhiều, sao các ông lại sang đây?”.
 |
| Bác Nguyễn Văn Chiển. |
Nở nụ cười móm mém, phúc hậu, bác Chiển cho biết, khi bị bắt bác cũng đã đọc nhiều truyện của các nhà cách mạng yêu nước trước đây, chỉ nghĩ rằng mình sẽ chết nhưng không hề sợ hãi. Một tên lính Mỹ tiếp tục hỏi: "Ông có nhớ ngày 5-8-1964 là ngày gì không?". Tôi rành mạch trả lời hắn rằng, có thể quên nhiều điều nhưng sự kiện không bao giờ tôi quên đấy là ngày máy bay của Mỹ oanh tạc miền Bắc và phi công Mỹ bị bắt sống - Bác Chiển hào hứng nhớ lại. Theo lời kể của bác Chiển, cố vấn Mỹ rất ngạc nhiên, thán phục trước trình độ Toán học của ông và cho rằng, ở miền Bắc, bà Nguyễn Thị Bình (nguyên Phó chủ tịch nước) mới dạy cấp 2 đã làm giáo sư và ông là một giáo viên cấp 3 chắc hẳn phải là... vị giáo sư thứ hai ở miền Bắc?
Những lớp học trên cát
Năm 1967, quân ngụy đưa Nguyễn Văn Chiển về trại giam Tân Hiệp. Về đây, anh em trong trại biết được ông là giáo viên Toán nên đã đề nghị dạy mọi người học. Sách giáo khoa và bút được các gia đình của những đồng chí ở miền Nam đến thăm nuôi đưa vào. Do được học công khai nên phong trào học cứ lớn dần, có những buổi thầy Thu (tên gọi trong tù của bác Nguyễn Văn Chiển) giảng bài, bọn quân cảnh ngồi nghe từ đầu đến cuối. Để có sách cho anh em học, thầy Thu đã soạn một bộ sách Toán từ lớp 1 đến lớp 10. Giấy được lấy từ những hộp đựng thực phẩm, sau đó ngâm nước, bóc ra thành từng tờ mỏng và dùng cà mèn là phẳng rồi đóng thành quyển, lấy miếng tôn cắt thành ngòi bút, mực được chế từ bọc mực của con cá mực hoặc gạch non mài ra hòa với nước… Toán học là bộ môn lô-gích nên dễ nhớ và nhờ viết sách để anh em học, nên tất cả những kiến thức Toán đều được thầy Thu ghi trong đầu. Tuy nhiên, một thời gian sau, lo sợ tù binh tụ tập đông người tuyên truyền lý tưởng đấu tranh, bọn giám thị trại giam đã bắt, tra tấn các giáo viên và nhốt vào biệt giam, cấm không cho anh em trong tù học. Mỗi lần vào kiểm tra, bọn quân cảnh lại đưa hàng bao tải sách vở mang ra. Chúng đã phải thốt lên rằng, trong trại có một người trình độ thấp nhất là cử nhân Toán học.
Năm 1970, thầy giáo Thu cùng nhiều anh em bệnh tật, thương binh tàn phế bị đưa ra Phú Quốc. Đảng ủy trong trại giam Phú Quốc đã phân công thầy Thu làm giáo viên trưởng, có nhiệm vụ đào tạo các lớp giáo viên, từ đó anh em sẽ tự dạy cho nhau, cố gắng để mỗi năm, anh em học được từ 1 đến 2 lớp. Sau này, có người ra Phú Quốc còn nhớ được bản Di chúc của Bác Hồ, thầy Thu cũng chính là người học thuộc và giảng lại cho anh em nghe những lời căn dặn của Bác trước lúc đi xa.
Việc học ngày càng khó khăn và khắt khe nên mọi người đã sáng tạo ra nhiều hình thức, dụng cụ học tập. Bảng viết được làm bằng cát, đổ nước lên và xoa mịn, những bảng này có thể giữ được gần một ngày, những lúc quên, anh em có thể chạy ra xem và nhớ lại. Không có sách, vở để ghi bài nên những học sinh đặc biệt này đều phải nhập tâm. Ngày đó, có một bảng Toán hết sức cần thiết cho học sinh lớp 10, đó là bảng Lô-ga-rít. Khi còn ở trại giam Tân Hiệp, thầy Thu đã nhớ và ghi lại. Đồng chí Nguyễn Quốc Việt đã giữ lại được bảng này và đưa ra được ngoài Phú Quốc để phục vụ việc học tập. Hiện nay, bảng Toán này vẫn được đồng đội của thầy Thu lưu giữ, sau khi so sánh với bản hoàn chỉnh thì không sai nhiều, chỉ sai số thứ 4 trong bốn chữ số thập phân. Sĩ quan ngụy tuy được học cao nhưng trình độ cũng khó mà sánh bằng những tù binh. Chúng thường đến thăm dò, đến đố toán, anh em đều giải được nhưng có những bài toán anh em đố lại, chúng không làm được nên rất nể phục những người Việt Cộng...
Ở trại giam Phú Quốc, thầy Thu còn làm nhiệm vụ tuyên huấn, nắm bắt tình hình tư tưởng của anh em và là một giáo viên chính trị. Việc học chính trị tuyệt đối phải bí mật nên chỉ có 3, 4 người nói chuyện với nhau, không biết ai là giáo viên. Để anh em nắm bắt được tình hình bên ngoài, thầy Thu đã phổ biến cho những người đi làm tạp dịch nhặt tất cả các tờ báo, thậm chí vào cả nhà vệ sinh của ngụy lấy những mẩu báo trong đó hoặc giấy bọc cá mang về để đọc. Thầy Thu phải xem hết và phổ biến cho anh em biết. Ví dụ như diễn biến ở Hội nghị Pa-ri, chuyện trên bàn hội nghị như thế nào? Mâu thuẫn giữa Mỹ và ngụy ra sao?… Từ đó mọi người nắm được tình hình bên ngoài.
Từ cuối năm 1972, khi Hiệp định Pa-ri được ký tắt giữa 4 bên, những tù binh bị bệnh, bị thương, tàn phế ở Phú Quốc được đưa về trại giam Tân Hiệp để chờ ngày trao trả. Khi chuẩn bị được trao trả, anh em được gặp phái đoàn quân sự bốn bên. Phái đoàn quân sự của ta đã tặng anh em một bản Hiệp định Pa-ri. Thầy Thu tiếp tục giảng về Hiệp định cho anh em nghe về những thắng lợi, mục tiêu của ta trong Hiệp định. Với thầy Thu, trong sự nghiệp tuyên huấn của mình, đây là kỷ niệm mà ông nhớ nhất. Có những buổi giảng cho hơn 300 tù binh mà bọn quân cảnh cũng ngồi im lắng nghe...
Sau khi được trao trả theo Hiệp định Pa-ri, nhiều người ra tù đã hoàn thiện được kiến thức còn dang dở trước khi nhập ngũ. Có người đã thi đỗ vào các trường đại học. Điển hình như anh Nguyễn Quốc Việt, sau khi ra tù đã thi đỗ vào Trường Đại học Xây dựng và được giữ lại trường công tác. Có những người khi vào bộ đội không biết chữ nhưng ra tù, trình độ đạt đến lớp 6, lớp 7. Sau 40 năm, những cựu tù Phú Quốc gặp lại nhau với bao kỷ niệm về một thời học say sưa, sôi nổi. Anh em vẫn gọi bác Nguyễn Văn Chiển với tên gọi thân thương "Thầy Thu".
Thay lời kết
Trong hệ thống ngục tù kiên cố, bọn cai ngục tàn ác đã áp dụng nhiều kiểu tra tấn man rợ thời trung cổ. Nhưng sau tất cả đòn tra tấn ấy không phải là sự bi lụy mà là những tấm gương kiên trung, những hình ảnh ung dung, bình thản đón nhận hy sinh của những người tù cộng sản. Chính sự bình thản của họ đã làm kẻ thù phải khiếp sợ.
Trở lại cuộc sống đời thường, người chiến sĩ năm xưa lại hòa mình vào công cuộc xây dựng đất nước. Nhiều người đảm nhận chức vụ lãnh đạo chủ chốt, có người trở thành luật sư, doanh nhân thành đạt, thầy thuốc, kỹ sư; nhiều người trở về với đồng ruộng để tăng gia sản xuất… Trong muôn nẻo cuộc sống đời thường tuy còn khó khăn, lo toan bộn bề nhưng dù ở cương vị nào, những người chiến sĩ tù cộng sản vẫn luôn thể hiện bản lĩnh thép, dạ ngọc, gan vàng sắt son với lý tưởng mình đã lựa chọn.
Sau 40 năm, Phú Quốc đã trở thành “đảo ngọc”, là điểm du lịch hấp dẫn và dần trở thành đặc khu kinh tế quan trọng ở cực Nam Tổ quốc. Nhưng về với Phú Quốc, từng hàng cây, ngọn cỏ vẫn rì rào mãi kể cho thế hệ hôm nay về một quá khứ hào hùng của những người cộng sản gan đồng, chí thép:
“Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc
Hồn bay lên thành linh khí quốc gia”.
------------------
Bài 1: Những "Kỹ sư Điện Biên" ở Nhà tù Phú Quốc
Bài 2: Cuộc chiến không tiếng súng
Bài 3: Chúng tôi - những người cộng sản
Bài và ảnh: VŨ DUNG-MINH MẠNH