Bài 3: Chúng tôi - những người tù cộng sản

QĐND - Với những người tù Phú Quốc, tuy bị giam cầm, chịu cảnh đày đọa về thể xác và tinh thần nhưng họ vẫn giữ vững khí phách người cộng sản, chết hiên ngang chẳng cúi đầu…

Những đòn tâm lý chiến

Trong ký ức của cựu tù Phú Quốc Nguyễn Đình Hưng, những ngày bị biệt giam trong khu A6 là những ngày tháng sôi nổi, đầy ắp những kỷ niệm của một người trưởng đại diện cho một phân khu khi vừa tròn tuổi đôi mươi. Giọng kể hào sảng đầy tự hào, bác Hưng nhớ lại:

- Sĩ quan ngụy được đào tạo có hệ thống nên trình độ ít nhất phải học hết tú tài bán phần hoặc tú tài toàn phần. Lúc đầu, chúng chọn người làm tổng đại diện thường là chiêu hồi nhưng chúng ta phản ứng không chấp nhận, có những tên chiêu hồi bị đánh tới chết. Sau này, anh em đấu tranh và cơ sở, Đảng ủy của ta trong tù cử người ra làm tổng đại diện. Người tổng đại diện cho một khu đại diện cho hàng nghìn anh em tù binh ở khu đó, nên phải luôn giữ được vị thế đối xứng với bọn giám thị trại giam, phải ngang về mặt văn hóa, tri thức, ứng xử.

Những kế sách đối phó lại với bọn quân cảnh cũng hết sức linh hoạt. Ví dụ như chuyện đánh cờ với bọn quân cảnh. Ai ở trong tù đánh cờ cũng rất giỏi, nhưng khi đánh với chúng phải biết lúc nên thắng, lúc nên thua nhằm xoa dịu tâm lý, tránh được cho anh em tù bị đòn roi hay những đòn phạt vạ vô cớ. Hoặc có những ván cờ phải đánh giằng co nhằm kéo dài thời gian để anh em trong các trại hoàn thành những việc bí mật còn dở dang. Theo bác Hưng, người đại diện phải biết ứng khẩu, vì thế phải hiểu biết, tinh thông nhiều điều. Bọn quân cảnh được đào tạo bài bản nên khi thấy những người trưởng đại diện ứng khẩu hay, giải được những bài toán khó, chúng rất nể phục, mỗi lần gặp người trưởng đại diện phân khu thì chúng luôn chào hỏi tử tế trước.

Bác Nguyễn Đình Hưng.

Khu trại giam số 6 ở nhà tù Phú Quốc được thành lập khoảng giữa năm 1969, trong đó phân khu A6 được dành riêng để làm biệt giam thí điểm. Những người bị coi là “cứng đầu, cứng cổ” ở các khu khác được lọc ra, đưa về A6 biệt giam. Bộ chỉ huy trại giam có ý định dùng phân khu A6 để thử nghiệm những biện pháp cai quản tù nhân, những phương pháp tra tấn, trấn áp các hoạt động chống đối của tù binh. Sự kiện mà hơn 700 người tù ở khu trại A6 không thể quên đó là màn đấu khẩu hiên ngang, khảng khái của Nguyễn Đình Hưng - người tù vừa tròn tuổi đôi mươi với tên trung úy Hiển - Phó chỉ huy toàn khu nhà tù Phú Quốc, kẻ được mệnh danh là chúa ngục in đậm dấu ấn phát-xít, khét tiếng tàn ác, gian giảo.

Sự việc liên quan đến 20 người tù ở phân trại A6 khi đưa thùng cầu đi đổ ở bìa rừng đã vùng lên đánh quân cảnh để vượt ngục nhưng không thành. Ngay hôm sau, một cuộc trả đũa, đày đọa về thể chất và tinh thần những người tù phân khu A6 đã diễn ra. Bộ chỉ huy trại giam bỏ đói tù nhân và bắt anh em phơi dưới nắng như đổ lửa ở Phú Quốc. Bác Hưng nhớ lại:

- Hai ngày không cơm ăn, không nước uống, khoảng 700 con người đầu trần trơ trọi, ngồi ngay hàng, thẳng lối dưới trời nắng Phú Quốc. Thỉnh thoảng lại có người say nắng, không chịu nổi đổ vật ra sân. Khoảng 2 giờ chiều hôm ấy, sức nóng và sự căm phẫn đã bốc lên đến tột đỉnh. Tên trung úy Hiển đi vào trong sân trại. Hắn đứng chống nạnh rồi chửi đổng. Những cụm từ “bọn phiến loạn,” “bọn cộng sản” “bọn Bắc Kỳ”, “bọn vô học” “bọn khốn nạn”… được lặp đi lặp lại nhiều lần rồi bỗng dưng hắn hạ giọng tâm lý chiến, mỉa mai: "Các anh em đã thấm thía chưa. Mình chỉ là những con tôm, con tép, là hạt cát nhỏ trên sa mạc mênh mông. Lỡ một bước chân, xấu số bị bắt vào đây là may mắn quá rồi. Chỉ việc ăn, chơi lại tránh được hòn tên mũi đạn. Làm sao phải trốn đi đâu? Đi đâu được mà trốn! Quân lực Huê Kỳ vũ khí tối tân và hiện đại. Lực lượng chính phủ Việt Nam Cộng hòa chúng tôi tinh nhuệ. Cũng là người Việt Nam, máu đỏ da vàng ai nỡ giết nhau làm gì...".

Giọng chùng xuống, bác Hưng kể:

- Nghe hắn nói, tôi liền bật đứng dậy. Lúc đó bản thân tôi mới ở tuổi 21, người gầy yếu đen nhẻm, chỉ có chiếc quần đùi và chiếc áo ba lỗ may bằng vải màn tuyn thưa, nắng soi vào tận da cháy sạm. Đứng trước áp lực, sự hung hãn của kẻ địch nhưng áp lực của một sân người tù còn lớn hơn nhiều. “Bắt” được mạch tâm lý chiến của thằng Hiển, tôi nhìn thẳng vào hắn rồi nhìn xuống sân người như muốn gửi lại lời tiễn biệt cho một cuộc chia ly tất yếu sẽ đến. Bởi mọi động thái trong đấu tranh tự phát luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Tôi ứng khẩu trôi chảy những câu chữ văn hoa, rất người lớn. Còn nhớ, ý tứ đầu tiên tôi muốn rào chặn thằng Hiển là nhằm vào tính sĩ diện của nó:   “Thưa ngài trung úy, thưa toàn thể anh em đồng cảnh ngộ như tôi! Thật bất nhã khi đứng trước ông trung úy, một con người đang đầy uy lực, quyền sinh quyền sát đối với chúng tôi như thế này mà trang phục của tôi chỉ có miếng vải màn mong manh che không kín... Đã hai hôm nay, chúng tôi không biết lý do gì mà các ông lại phạt vạ chúng tôi như thế này. 20 người tù đánh nhau với quân cảnh để vượt ngục ngoài kia là chuyện của họ. Chúng tôi có can cớ gì đâu? Tính từ vách tôn nơi chúng tôi phải nằm suốt ngày đêm đến phía sau lưng nơi ông đang đứng đã có 16 lớp hàng rào kẽm gai đủ loại. Còn họng súng, vọng gác, đèn pha, cảnh khuyển và hàng rào người dày đặc canh phòng cẩn mật suốt ngày đêm. Các ông đã bó chặt thể xác chúng tôi bằng hàng trăm loại hàng rào như thế chưa đủ sao? Tại sao chúng ta những người Việt Nam máu đỏ da vàng, lại không nói được với nhau bằng ngôn ngữ âm thanh, bằng tâm hồn người Việt mà các ông lại chỉ nói với chúng tôi bằng gót giày và dùi cui thô bạo như vậy? Chúng tôi không bàn chuyện chính trị ở đây. Chúng tôi yêu cầu các ông hãy trả tự do ngay cho những người vượt ngục vừa bị bắt lại. Chúng tôi yêu cầu các ông hãy trả lại cho chúng tôi những quyền tối thiểu của con người đang bị cầm tù ở đây…”.

Sau lời hô đồng thanh “đồng ý” của anh em tù với những yêu cầu trên, bọn quân cảnh bên ngoài hoảng loạn chạy nháo nhác. Trên vọng gác góc trại, mấy loạt súng liên thanh bắn chỉ thiên làm náo loạn không khí khu trại giam. Sau giây phút đó, tên Hiển cho nhiều người phát biểu ý kiến, đề đạt nguyện vọng của anh em tù. Sau một vài lời hứa lấy lệ, chúng cho mọi người được trở về phòng giam sinh hoạt bình thường. Tuy nhiên, ngay sau đó hầu hết trong số những người vừa phát biểu trước đám đông đã bị giám thị gọi ra tập trung trong phòng bếp để gặp thượng cấp. “Tôi hoàn toàn không bất ngờ vì đã lường trước” - bác Hưng nhấn mạnh.

Chuyện cái giậu mồng tơi

Trong số những anh em bị gọi ra lúc đó, Nguyễn Đình Hưng là người nhỏ tuổi nhất, nhưng có lẽ vì thế lại không biết sợ. “Tên trung úy Hiển hỏi nhiều điều như: Ở chi bộ nào, ai xúi giục... Hiểu được sự xáo trộn, hoang mang đang diễn ra trong tâm lý của tên Hiển, tôi đã bình tĩnh trả lời rất đĩnh đạc rằng: Thưa trung úy, tôi và anh em chúng tôi ngồi đây không phải sinh ra, hay ngồi tù ở đây suốt ngày chỉ để học thuộc lòng những lời để giải trình việc này hay việc khác. Trong mỗi hoàn cảnh khác nhau, trung úy cũng đối xử khác với chúng tôi, nên những điều chúng tôi muốn nói cũng khác nhau. Chúng tôi mỗi người một khu khác nhau được nhặt ra đưa về đây biệt giam. Trại mới hình thành ít hôm, từ phòng này sang phòng kia là 7 lớp hàng rào ngăn cách, từ chỗ tôi nằm ra đến con đường phụ nơi quân cảnh tuần tra là 16 lớp hàng rào kẽm gai ngăn cách. Chúng tôi có cơ hội nào để tiếp xúc mà bàn nhau làm một việc gì? Những hàng rào kẽm gai đối với chúng tôi chỉ là vật ngăn, chứ không thể là vật cách. Tôi đang đứng trước mặt trung úy không hề có vách ngăn, nhưng khoảng cách lại lớn vô cùng vì hai người đang ở hai đầu chiến tuyến. Chỉ xin ông đừng hỏi gì thêm chứ hình phạt thì tôi không xin” - bác Hưng nhớ lại.

Sau cuộc đấu khẩu ấy, tên Hiển như hiểu được, với những người tù cộng sản, gần 20 lớp hàng rào dây kẽm gai ấy chỉ như những “giậu mồng tơi”, có ngăn “nhưng” không “cách”. Kẻ thù đã khuất phục trước những lý lẽ đanh thép của người tù, những cuộc tra tấn đã không xảy ra. Chúng đã chia mỗi người tù đi một khu và thời gian ngắn sau đó phân trại biệt giam A6 cũng được giải tán. Nguyễn Đình Hưng được chuyển về phân khu A4, thoát được trận đòn trả đũa sau một cuộc đấu tranh công khai và được anh em, tổ chức Đảng trong nhà giam tin cậy phân công làm tổng đại diện phân khu cho đến lúc được trao trả tù binh.

Nhiều lần đối mặt trực diện với địch, có khi dùng những lời lẽ mềm dẻo; có khi dùng tích chèo, câu ca, lời hát để truyền tải khôn khéo những yêu sách, hay để thuần hóa những tên quân cảnh hung bạo là những kỷ niệm không thể nào quên được trong thời gian làm tổng đại diện trong tù của bác Nguyễn Đình Hưng. Nghệ thuật đấu tranh chính trị sẽ mãi là niềm tự hào và là bài học quý giá của thế hệ cha anh đi trước góp phần vào kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam.

---------

Bài 1: Những “Kỹ sư Điện Biên” ở Nhà tù Phú Quốc

Bài 2: Cuộc chiến không tiếng súng

Kỳ 4: Trong tù không ngơi việc học

Bài và ảnh: MINH MẠNH-VŨ DUNG