LTS: Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Nhà tù Phú Quốc là trại giam trung tâm của ngụy quyền Sài Sòn. Dù chỉ tồn tại gần 6 năm (từ ngày 6-7-1967 đến 25-3-1973), Nhà tù Phú Quốc đã giam giữ hơn 40.000 lượt tù binh cộng sản, trong đó có hơn 4000 người anh dũng hy sinh. Mặc dù bị tra tấn dã man nhưng người tù Phú Quốc không chịu khuất phục, đoàn kết một lòng, tiến hành cuộc chiến không tiếng súng, đập tan những âm mưu, thủ đoạn tàn độc của địch. Hàng nghìn người đã chết, hàng chục nghìn người thương tật, tàn phế, nhưng những người anh hùng gan đồng, chí thép ấy đã viết nên khúc tráng ca bất hủ.

40 năm chiến thắng - ngày trở về, những mái đầu đã bạc, nhưng những cái bắt tay vẫn siết chặt. Chiến tranh đã là câu chuyện của quá khứ nhưng ký ức về ngày tháng bị giam cầm trong tù ngục được những người lính già kể rành mạch từng chi tiết bằng cả tiếng cười, nước mắt, niềm tự hào về tình đồng chí và lòng yêu nước.

Bài 1: Những “Kỹ sư Điện Biên” ở Nhà tù Phú Quốc

Hơn 40 năm trước, có một cuộc vượt ngục đã làm chấn động cả trại giam Phú Quốc, khiến ngụy quyền Sài Gòn cũng như những cố vấn người Mỹ phải nghiêng mình thán phục. Chúng đã dành những mỹ từ: “Kỹ sư Điện Biên” để nói về những người tù vượt ngục năm ấy…

Nơi đâu cũng luôn có Đảng

Những ngày tháng 4 lịch sử, chúng tôi tìm gặp bác Nguyễn Hà Long (Hà Đông, Hà Nội), nguyên cựu tù Phú Quốc - người trong tổ đào đường hầm vượt ngục đầu tiên ở trại giam Phú Quốc. Giọng nói khàn đặc, đôi tay run run là di chứng còn lại sau những trận đòn thù, nhưng nụ cười hiền hậu, vô tư đến lạ. Chạm đúng mạch nguồn ký ức, người lính nay đã gần 80 tuổi như trẻ lại. 40 năm kể từ ngày được trao trả sau Hiệp định Pa-ri năm 1973, trong ký ức của ông vẫn vẹn nguyên những trận đòn thừa sống thiếu chết nơi “địa ngục trần gian” và cả những cuộc đấu tranh bền bỉ với giám thị trại giam. Ánh mắt tinh anh, giọng kể sôi nổi, người lính già đưa chúng tôi về những tháng ngày bị đày đọa khổ sở. Bác Long tâm sự:

- Tháng 2-1965, trong trận tập kích vào Tam Quan, Bình Định, tôi bị thương và bị địch bắt. Trước khi ra Phú Quốc, tù binh được giam giữ tại trại giam Tân Hiệp (Biên Hòa). Nơi đây còn in sâu trong tâm trí của tôi và nhiều người tù cách mạng khác là sự kiện tổ chức kỷ niệm Ngày thành lập Đảng Lao động Việt Nam (3-2-1967). Tôi còn giữ được một con tem có in hình Bác Hồ. Anh em vẽ phác thảo ảnh của lãnh tụ trên giấy khổ 15-20cm. Thiếu thốn đủ thứ, nhưng mọi người sáng tạo ra cách lấy viên thuốc B2 có màu vàng pha với nước để vẽ ngôi sao 5 cánh, dùng thuốc sát trùng có màu đỏ để vẽ cờ và viết khẩu hiệu Đảng Lao động Việt Nam. Lễ kỷ niệm được tổ chức trong căn phòng giam chật hẹp. Từng nhóm 5-7 người thay phiên nhau vào hướng về cờ, ảnh lãnh tụ, hướng về phía Bắc và trong thâm tâm tự hứa sẽ giữ trọn lời thề với Đảng. Anh em còn lại ở bên ngoài tổ chức bảo vệ bằng hình thức ca hát, vì năm đó, Ngày thành lập Đảng cũng đúng vào dịp Tết nên bọn quân cảnh không hề nghi ngờ.

Từ năm 1967, ngụy quyền Sài Gòn bắt đầu đưa tù binh ở các trại giam trong đất liền ra Phú Quốc. Cuối năm 1967, Nguyễn Hà Long cũng là một trong số hơn 100 người tiếp theo bị đầy ra Phú Quốc.

Bác Nguyễn Hà Long đứng ở cửa hầm lên ở trại giam Phú Quốc. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Phú Quốc bốn bề biển rộng bao la, vừa đặt chân lên đây, những người tù binh cộng sản sau khi bị trận đòn phủ đầu là lời đe dọa: “Chúng mày ra đây, nếu chống đối thì chỉ có con đường chết”. Nhưng không ai chịu khuất phục, mọi người đoàn kết đồng lòng, tiếp tục đấu tranh để không đi làm tạp dịch, đòi được ăn uống theo đúng chế độ… Đấu tranh để đòi quyền sống của mình, để phá âm mưu đầy đọa về thể chất và tinh thần của địch. Đấu tranh thì bị đánh, hình thức tra tấn ngày một cao lên. Mục đích cuối cùng của kẻ thù là biến tù nhân thành những người không lý trí, không lương tri, sức khỏe, nếu có ra tù cũng không thể tham gia cách mạng. Tuy nhiên, càng bị tra tấn, đánh đập lại càng thôi thúc ý chí của những người tù nung nấu ý định vượt ngục để trở về với cách mạng. Có nhiều cuộc vượt ngục thành công với các hình thức: Vượt rào, bỏ trốn khi đi vác gạo, đánh quân cảnh, trốn vào xe chở rác… đã thôi thúc những người ở lại. Với Nguyễn Hà Long và nhiều anh em khác, hai chữ “vượt ngục” cứ hiển hiện trong đầu, ngày đêm suy nghĩ để tìm cách thoát ra.

Đường hầm vượt ngục đầu tiên ở Phú Quốc

Ở trại giam Phú Quốc, khu nhà giam B2 được dành riêng cho những người bị mắc bệnh lao chuyển từ Biên Hòa ra. Thời ấy, đây là bệnh nguy hiểm, bọn quân cảnh sợ bị lây bệnh nên khu biệt giam này ít bị kiểm tra hơn những khu khác. “Nhận thấy đây là cơ hội hiếm có, anh em ở khu lao quyết định đào hầm để vượt ngục và tôi “may mắn” là một trong số đó” - giọng nói hóm hỉnh, bác Long kể với chúng tôi về ý tưởng đào hầm vượt ngục.

Sau nhiều trăn trở, tính toán khoa học khi phân tích chất đất, diễn biến của bọn quân cảnh và nhận được sự đồng tình của tổ chức, anh em khu trại giam B2 quyết tâm đào hầm. Mọi phương án đối phó được xây dựng sẵn, khu B2 chọn ra những người đủ bản lĩnh đương đầu trước những trận đòn thù của quân địch để nếu bị lộ sẽ đứng ra nhận trách nhiệm, không làm ảnh hưởng đến tổ chức. Nếu thành công sẽ bổ sung cho cách mạng được nhiều cán bộ, ngoài ra để 3 người ở lại nhằm nhân rộng mô hình cho các khu khác học tập.

Sau khi tính toán kỹ lưỡng, nhóm đào gồm 6 người quyết định chọn tối 2-9-1968 là ngày khởi công tại nhà giam 14. Dụng cụ đào là cà mèn bằng i-nox, ống quần buộc túm lại dùng đựng đất và dây đay lấy từ bao tải gạo được bện thành dây thừng để kéo đất ra. Trong quá trình đào, để phòng điểm danh bất ngờ, anh em phải giả ốm hoặc với mẹo nhảy hàng điểm danh thay cho nhau... Bác Long cho biết, hầm được tính toán khoa học, đào theo dạng hình thang, với công thức đáy dưới rộng 45cm, cao 25cm và đáy trên rộng 35cm, chỉ vừa vặn với thân hình để lượng đất đưa lên không nhiều. Đất ở Phú Quốc có đặc điểm là xốp và có độ cứng của đất đỏ ba-zan. Ban đầu, đất đào ra được rải đều ngay trên nền nhà, lợi dụng có gió biển nên sáng hôm sau đất mới đã khô đều như đất cũ nên rất khó phát hiện. Để bảo đảm tính bí mật và tránh việc điểm danh của quân địch nên chỉ có thể đào vào ban đêm, bắt đầu từ sau buổi điểm danh tối đến rạng sáng.

Bác Long nhớ lại, trong lúc đào hầm có nhiều tình huống xấu bất ngờ xảy ra. Vấn đề đầu tiên là khi đào sâu được khoảng 20-30m, đất đưa lên cũng đã nhiều, màu đất đã khác và phải đối mặt với khó khăn là tìm ra nơi đổ đất mới. Lúc đó, đồng chí Nguyễn Xuân Cát người Nghệ An đã có sáng kiến táo bạo, đề xuất với bọn quân cảnh cho đào lại hố tiểu trong phòng vì hôi thối quá. Miệng nói, tay làm, một người chạy ngay xuống nhà bếp mượn xẻng. Chính quân địch cũng bị bất ngờ, không hề nghi ngờ hành động của những người tù bị bệnh lao. Những ngày sau đó, đất đào hầm được đưa ra cùng với đất đào hố tiểu và một phần đất lại được ném vào hố nên bọn quân cảnh không phát hiện được. Trong quá trình đào, anh em cũng đã tính toán kỹ lưỡng để chống sụt lún. Khi đào qua những đoạn có đường tuần tra thì phải đào sâu xuống ít nhất là 2,5m, cứ cách 10m thì làm một hàm ếch, ngoài ra còn phải làm lỗ thông hơi. Khi đường hầm đã dài 50, 60m, lỗ thông hơi cũng chính là đường định hướng cho hầm.

Bác Nguyễn Hà Long cùng các kỷ vật còn giữ lại được trong những ngày hoạt động ở Phú Quốc.

Say sưa kể đầy tự hào với các sáng tạo của đồng đội, ánh mắt tươi vui, nhấp chén trà nóng, giọng chậm rãi, bác Long kể: Mọi việc khá suôn sẻ cho tới một ngày khi đường hầm chỉ còn cách hàng rào 4-5m, vào khoảng 5 giờ sáng, trời bất ngờ mưa to làm sụt một hố rộng trên đường hầm. Tình hình trở nên căng thẳng, nếu không xử lý nhanh sẽ bị lộ. Nguyễn Xuân Cát đã nhanh trí đề xuất đưa thùng phuy đựng nước tiểu ra đậy lên trên và nhanh chóng cho lấp hố sụt. Một lần nữa, đường hầm được bảo vệ an toàn và anh em thoát nguy trong gang tấc.

Tháng 1-1969, khi đường hầm đã đào qua những hàng rào dây thép gai, qua vành đai tuần tra ở khoảng cách an toàn với độ dài khoảng 120m, tổ đào quyết định mở cửa lên vì nếu đào tiếp, có thể dính bãi mìn chống vượt rào của địch. Theo kế hoạch sẽ đưa những cán bộ chủ chốt ra trước. Những người còn lại đi được càng nhiều càng tốt. Tuy nhiên, mọi việc không được như mong muốn. Dự kiến khoảng 9 giờ tối sẽ mở được cửa hầm. Nhưng đến 3 rưỡi sáng, cửa hầm mới được thông. Người cuối cùng lên được thì trời đã rạng sáng. Không giấu được niềm tự hào khi nhớ về đường hầm lịch sử này, bác Long cho biết, đường hầm khởi công từ ngày 2-9-1968 và mở được cửa lên vào ngày 20-1-1969, dài hơn 120m, và có 21 chiến sĩ đã thoát ra về được với cách mạng. Sau này, khi nhân rộng mô hình ở các khu, tổng kết lại, ở Phú Quốc có 14 đường hầm nhưng thành công không nhiều. Có những đường hầm phải lấp lại, có hầm bị phát hiện, quân ngụy đã chôn sống anh em trong hầm. Từ năm 1968 đến 1972, có tất cả 39 cuộc vượt ngục với số lượng hơn 400 anh em, nhưng chỉ có hơn 200 người thoát được. Số còn lại bị địch bắt hoặc hy sinh trên đường vượt ngục.

Trở lại câu chuyện ở trại giam Phú Quốc sau khi 21 người vượt ngục thành công, bác Long nhớ lại đầy tự hào:

- Sau này, nghe anh em kể lại, khoảng 7 giờ 30 phút, bọn quân cảnh điểm danh thấy thiếu 21 người, nhưng không phát hiện được vì sao lại thiếu và vẫn nghĩ rằng những người này đã vượt rào. Đến 9 giờ 30 phút, chúng phát hiện cửa hầm lên, nhưng vào trong lại không tìm thấy cửa xuống. Quân ngụy phải nhờ đến cố vấn Mỹ và chó nghiệp vụ mới tìm thấy cửa xuống. Khi tìm được cửa hầm, cố vẫn Mỹ đã rất khâm phục và nói rằng đây là những người anh hùng, đây là những "Kỹ sư Điện Biên"… Để đối phó với phong trào đào hầm sôi sục trong anh em, quân ngụy đã dùng cọc sắt đóng sâu 2m xuống nền đất, đổ bê tông trên nền nhà, cứ 3 tháng lại chuyển phòng giam một lần và đàn áp tù binh dã man, làm nhụt ý chí.

Cuộc đào hầm đã thể hiện tinh thần cách mạng của những người chiến sĩ kiên trung, dù ở hoàn cảnh nào cũng tạo ra khí thế đấu tranh để giải phóng mình, tiếp tục được phục vụ cách mạng và tinh thần dám xả thân vì lợi ích của tổ chức. Trong tổ đào, có 6 người không thoát được, nhưng anh em đã một lòng đoàn kết, không tính toán thiệt hơn, dám chấp nhận hy sinh để bảo vệ tổ chức, bảo vệ đồng đội, tiếp tục chờ thời cơ vượt ngục...

--------

Bài 2: Cuộc chiến không tiếng súng

Bài và ảnh: MINH MẠNH-VŨ DUNG