QĐND - Tôi chưa một lần được gặp ông và chỉ biết đến ông qua trang lý lịch, tập thơ văn do chính ông sáng tác và những lần ít ỏi khi trò chuyện với chị Thanh - người con gái mà ông hằng yêu quý... Lần theo thời gian, tôi dần hiểu được về một đời theo cách mạng của một người cộng sản.
Ông Từ Ngôn, tức Nguyễn Văn Từ, sinh năm 1914 trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước tại một vùng quê có truyền thống cách mạng là xã Thọ Vực, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định (nay là thôn Thọ Vực, xã Xuân Phong, huyện Xuân Thủy, tỉnh Nam Định).
 |
|
Ảnh Nguyễn Văn Từ-căn cước trong nhà tù đế quốc Sơn La, Côn Đảo 1940-1945. Ảnh tư liệu
|
Những tháng cuối năm 1937, phong trào cách mạng của nhân dân lao động Nam Định phát triển mạnh. Tại phủ Xuân Trường, Hội tương tế của Nguyễn Văn Từ đứng lên đấu tranh đòi trả đất, bồi thường hoa màu... cho nông dân, buộc địa chủ, cường hào phải chấp nhận. Năm 1938, được Đảng giao công tác vận động bầu cử ở Bắc Kỳ cho Mặt trận Dân chủ, thông qua cuộc vận động này, Nguyễn Văn Từ đã tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng đường lối chủ trương của Đảng, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân với Đảng. Tháng 10-1938, Nguyễn Văn Từ được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và bước vào con đường hoạt động cách mạng chuyên nghiệp. Sang năm 1939, phong trào cách mạng ở Nam Định dần chuyển vào hoạt động bí mật, Đảng bộ Nam Định kiện toàn cấp ủy, Nguyễn Văn Từ được cử vào Tỉnh ủy kiêm Bí thư Phủ ủy Xuân Trường. Cả Nam Định có 7 chi bộ cơ sở, thì riêng tại Xuân Trường, dưới sự tổ chức của Bí thư Phủ ủy đã thành lập 3 chi bộ cơ sở là Lạc Nghiệp, Trà Lũ, Thọ Vực. Các chi bộ này đã lãnh đạo quần chúng rải truyền đơn ở Phủ lỵ, đấu tranh chống bắt phu, bắt lính, chống sung công tài sản... Để bảo đảm an toàn cho tờ báo Tiến lên, Đảng bộ Nam Định quyết định chuyển báo từ Dịch Lễ xuống Thọ Vực. Ngay từ những ngày tờ báo ra đời, Nguyễn Văn Từ đã gửi nhiều bài đăng báo, nay báo chuyển về chính ngôi nhà của gia đình mình, ông càng có nhiều điều kiện hơn trong công tác tuyên truyền của Đảng.
Giữa lúc phong trào cách mạng đang được củng cố thì Nguyễn Văn Từ bị Sở Mật thám Nam Định bắt tại nhà (22-4-1940). Biết vị trí quan trọng của ông (do kẻ phản bội khai báo), thực dân Pháp đã dùng mọi thủ đoạn tra tấn dã man hòng moi tin tức nhưng đều thất bại. Chúng kết án ông 15 năm tù khổ sai. Thực dân Pháp giải Nguyễn Văn Từ đi, từ nhà giam Nam Định tới Hỏa Lò rồi đến khám lớn Sài Gòn; hết bị đầy đọa nơi rừng thiêng nước độc ở nhà tù Sơn La, lại bị giam hãm giữa mịt mùng biển khơi nhà tù Côn Đảo nhằm tiêu diệt ý chí cách mạng của ông. Nhưng cũng chính trong nhà tù thực dân, tinh thần lạc quan của người cách mạng lại càng biểu hiện sáng ngời. Bị tra tấn, hành hạ, nhưng ông và đồng đội luôn giữ thế hiên ngang, bất khuất trước kẻ thù; xây dựng nếp sống lạc quan, hữu ái trong tù, biến nhà tù đế quốc thành Trường học Cộng sản.
Cách mạng Tháng Tám thành công, sáng 23-9-1945, chiếc tàu Phú Quốc do chính người thợ máy Tôn Đức Thắng điều khiển và 25 chiếc ghe bầu đã nhổ neo đưa Nguyễn Văn Từ cùng 1.800 tù chính trị trở về đất liền trong sự tiếp đón nồng nhiệt của cán bộ và nhân dân địa phương. Nhìn những khuôn mặt gầy guộc, khắc khổ của anh em tù chính trị, các bà mẹ, các chị phụ nữ không ai cầm được nước mắt... Theo lời kêu gọi của Xứ ủy và Ủy ban hành chánh Nam Bộ, hàng trăm người quê ở miền Bắc tình nguyện ở lại tham gia kháng chiến, không thể về thăm quê, gặp gỡ gia đình, người thân sau nhiều năm xa cách, trong đó có Nguyễn Văn Từ.
Ở lại cùng đồng bào Nam Bộ, những ngày đầu kháng chiến, dải đất miền Trung Nam Bộ thiếu thốn mọi bề: Thiếu vũ khí, lương thực, thiếu căn cứ địa an toàn trong khi các đơn vị vũ trang còn quá non trẻ. Nguyễn Văn Từ bắt tay ngay vào phục vụ cách mạng. Từ Chính trị viên đại đội Cộng hòa vệ binh, Giám đốc Trường Việt Minh tỉnh Mỹ Tho đến biên tập viên tin tức Khu 7, ông luôn bám dân, xây dựng cơ sở, phát triển chiến tranh du kích trong vùng địch kiểm soát. Tháng 8-1948, với cương vị là Chính trị viên Tiểu đoàn 307, ông đã lãnh đạo Tiểu đoàn đánh đồn huyện Mộc Hóa (Tân An) diệt 300 địch, bắt đồn trưởng, thu 300 súng và trận La Bang (Trà Vinh) diệt hàng trăm địch, bắt 20 tù binh, thu 60 súng.
Từ năm 1949 đến 1954, ông giữ nhiều trọng trách: Giám đốc Trường Chính trị viên đại đội, trung đội Khu 8, Chính ủy Trường Quân sự Nam Bộ, Phó ban Tổ chức Phòng Chính trị miền Tây Nam Bộ, Chính ủy Phân hiệu Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn Nam Bộ, Trưởng ban Tuyên Văn Phân Liên khu miền Tây... Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ông là biên tập viên, Trưởng phòng Bạn đọc, Trưởng phòng Hành chính Trị sự Báo Quân đội nhân dân. Tháng 3-1962 là Cục phó thứ nhất Cục Dân vận. Ngày 10-3-1964, ông làm Giám đốc Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam). Là người đã từng hoạt động cách mạng khắp cả Bắc - Nam, thấu hiểu sức mạnh của đoàn kết nên bất kỳ ở cương vị công tác nào, ông đều chăm lo xây dựng khối đoàn kết quân dân và là trung tâm của khối đoàn kết. Ông sống trong sáng, giản dị, khiêm tốn, chân thành, nói đi đôi với làm, lý luận liên hệ với thực tiễn; phê bình nhẹ nhàng, tế nhị nhưng nghiêm túc, sâu lắng, không "dĩ hòa vi quý"; dốc tâm, tận sức xây dựng quân đội cho đến ngày nghỉ hưu… Một đời kiên quyết đi theo ngọn cờ cách mạng của Đảng, phục vụ quân đội của Nguyễn Văn Từ thực sự là hình ảnh của anh Bộ đội Cụ Hồ với đầy đủ tầm vóc và ý nghĩa của nó. Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu đã từng tâm sự về ông: "Từ Ngôn đã đi vào cõi vĩnh hằng, nhưng hình ảnh, những dấu ấn về Anh mãi mãi còn đọng lại trong lòng cán bộ, đảng viên, bộ đội và nhân dân Việt Nam".
NGÔ NHẬT DƯƠNG