QĐND - Mấy năm rồi, tôi mới có dịp gặp lại Đại tá, nhà báo Nguyễn Đức Toại. Ở tuổi 86, sức khỏe ông yếu hơn, giọng nói run run nhưng vẫn đúng cái chất trầm ấm của một người con đất lửa Quảng Trị. Tôi thật sự xúc động khi vừa gặp ông, ông bảo: “Khoảng thời gian cuối đời mà còn được các thế hệ phóng viên trẻ của Báo Quân đội nhân dân quan tâm đến thăm, trò chuyện, thật vô cùng quý giá”.
Những khoảnh khắc lịch sử của “phóng pháo”
Đại tá Nguyễn Đức Toại bảo, cái nghiệp của ông là phóng viên chiến trường. Năm 1956, về nhận nhiệm vụ ở Báo Quân đội nhân dân chưa được bao lâu thì ông được tòa soạn cử xuống cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với các đơn vị pháo binh, pháo cao xạ. Ông chia sẻ: “Tôi ở đó nhiều lần nên anh em gọi tôi bằng cái tên “phóng pháo”, tức là phóng viên pháo binh. Nhờ đến các đơn vị, tôi có nhiều bài viết phản ánh tinh thần xây dựng đơn vị, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu kiên cường, dũng cảm cũng như nêu gương các điển hình”. Và cũng chính các đơn vị chiến đấu đã giúp ông bám sát chiến trường. Ông luôn có mặt ở nhiều điểm nóng, thời điểm cao trào, những bước ngoặt của cuộc chiến tranh.
 |
|
Đại tá, nhà báo Nguyễn Đức Toại tháng 9-2013.
|
Ông còn nhớ như in trận chiến của quân và dân Hồng Gai, Quảng Ninh ngày 5-8-1964 trước đợt đánh phá miền Bắc của không quân Mỹ. Đó là lần đầu tiên máy bay Mỹ không kích miền Bắc và đã bị quân dân ta bắn rơi, bắt sống một phi công Mỹ đầu tiên là An-va-rét (Everett Alvarez). Sau khi ghi chép tài liệu, hình ảnh, ông gặp được một phóng viên khác của Báo Quân đội nhân dân là Lục Văn Thao vừa đến nơi. Ông nhờ đồng chí Thao lấy tài liệu về tên phi công Mỹ, còn mình nhanh chóng về Hà Nội, viết bài trong đêm và lên báo sáng hôm sau. Bài báo “Bắn rơi máy bay và bắt sống phi công Mỹ” của ông đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của quân và dân các địa phương cả nước. Nhờ có sự nhạy bén trong tác nghiệp chiến trường, ông được Ban biên tập cử vào Quảng Bình, ghi nhận chiến sự khu vực Bình - Trị - Thiên. Tại đây, ông đã viết bài về đơn vị của Anh hùng Nguyễn Viết Xuân đánh thắng máy bay Mỹ ngày 18-11-1964 tạo tiếng vang lớn trong toàn quân, góp phần thi đua diệt giặc Mỹ. Chính bài báo, hình ảnh của ông chụp được khẳng định có ít nhất ba máy bay Mỹ bị rơi, đã tố cáo luận điệu dối trá của Chính phủ Mỹ khi tung tin rằng chỉ có một máy bay Mỹ bị trúng đạn ở vùng Trung Lào.
Nghe từng lời kể, hồi ức của nhà báo Nguyễn Đức Toại, tôi như cuốn hút theo những trận đánh ác liệt. Càng cuốn hút hơn khi ông nói về tinh thần tác nghiệp không mệt mỏi, ham “lăn” vào chiến trường đỏ lửa, cho ra đời những bài báo sinh động, rất thực về tinh thần chống giặc ngoại xâm dọc chiều dài đất nước. Hàng loạt phóng sự, ký sự chiến tranh của ông đi vào cuộc sống từ Tết Mậu Thân 1968, rồi “Cơn lốc rừng Dừa” ở miền Trung-Tây Nguyên, đến “Bức tranh phủ định Việt Nam hóa chiến tranh”, rồi “Từ Hà Nội đến mũi Cà Mau”… Ông có mặt ở hầu hết các điểm mốc của chiến trường, trong ngày toàn thắng 30-4-1975 tại Sài Gòn và đặc biệt, ông có mặt lúc kéo lá cờ Tổ quốc trên mảnh đất Mũi tận cùng đất nước hay huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang) xa xôi. Ông nói: “Đi chiến trường thì phải tranh thủ tác nghiệp, phán đoán tình hình kịp thời, tranh thủ ghi nhận tài liệu, đồng thời phải hình thành trong đầu về bài viết. Lúc chiến trường tạm yên hay trên đường về tòa soạn thì viết ra giấy. Có như vậy, bài báo mới kịp thời, có khói lửa chiến trường. Tin ngắn thì điện về cho tòa soạn đánh máy, còn bài viết, hình ảnh thì phải viết và tìm cách gửi về tòa soạn nhanh nhất có thể”.
Có lần, khi đang băng qua đồi Cu-ba tiến đến điểm cao đồi 456 tháng 4-1971, ông bị pháo đạn của địch làm dập ngón tay phải. Đồng chí Khuất Duy Tiến, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64, lúc đó là đơn vị chủ công trận đánh đã khuyên ông lui về phía sau để cứu lấy bàn tay. Tuy nhiên, ông đã kiên quyết xin cắt bỏ đốt ngón tay, băng bó, tiếp tục ở lại chiến trường tác nghiệp. Trận đánh thắng lợi, quân ta bắt sống được tên Đại tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn dù 3 của ngụy. Dù tay bị thương, ông vẫn kịp viết bài, gửi ảnh đăng báo kịp thời. Nhớ lại thời khắc ấy, ông mỉm cười nói: “Lúc đó, tôi chẳng thấy mình đau đớn gì cả, chỉ mong làm sao có sức, tiếp tục ở lại quan sát trận đánh, đưa bài kịp thời về tòa soạn”.
Bài thơ từ chiến trường và người con nuôi
Nghiệp của phóng viên chiến trường cũng như người chiến sĩ giải phóng, đều có sinh ly tử biệt, tất cả cho tiền tuyến. Đã hơn một lần, ông có những cuộc hội ngộ đồng nghiệp ở chiến trường rồi mãi mãi không gặp lại. Ông đã nhiều lần chứng kiến đồng nghiệp của mình hy sinh, tự tay chôn cất đồng nghiệp giữa nơi hoang lạnh của chiến trường. “Những hình ảnh, ánh mắt, lời nói cuối cùng của những đồng nghiệp, đồng đội đã ngã xuống, tôi không bao giờ quên được. Nó luôn động viên, thôi thúc mãi trong tôi trên con đường tác nghiệp chiến trường, phải làm sao xứng đáng với sự hy sinh của các anh ấy” - ông xúc động nói.
 |
|
Từ trái sang phải: Nhà báo Nguyễn Đức Toại, nhà báo Ngọc Nhu và nhà báo Lê Đình Dư tại Vĩnh Linh, Quảng Trị. Ảnh chụp lại.
|
Đó là thời điểm đầu năm 1968, ông vào Quảng Bình thì tình cờ gặp nhà báo Lê Đình Dư (cùng phòng Quân sự với ông) và nhà báo Ngọc Nhu (phòng Thời sự quốc tế) cũng vừa vào tới Quảng Bình. Cả ba gặp nhau vui vẻ, chuyện trò và ngủ cùng chung một chiếc hầm ở Long Đại, Quảng Bình. Ông hỏi hai đồng nghiệp: “Ngày mai, hai anh đi đâu?”. Hai nhà báo cho biết sẽ đi về Huế. Còn ông quyết định về Khe Sanh (Quảng Trị) để tác nghiệp. Sáng hôm đó, khi chia tay lên đường, nhà báo Lê Đình Dư còn trao cho ông một bài thơ tặng con gái nếu như ông về Hà Nội trước thì chuyển giúp. Vậy là, cuộc đi đó không hẹn ngày gặp lại. Hai nhà báo Lê Đình Dư và Ngọc Nhu tác nghiệp trong trận chiến của bộ đội ta chống lại trận càn của địch và anh dũng hy sinh tại huyện Gio Linh, Quảng Trị. Về Hà Nội, được tin hai đồng nghiệp hy sinh, ông vô cùng đau đớn. Ông đã tìm gặp gia đình liệt sĩ Lê Đình Dư, trao lại bài thơ và quyết định nhận con gái của liệt sĩ Dư là Lê Hồ Hương làm con nuôi để trông nom, đỡ đần.
Tháng 1-1972, khi ông cùng nhà báo Tô Ân (Trưởng phòng Quân sự) và nhà báo Trần Tuấn đi ngang qua sân bay Dừa, về huyện Con Cuông (Nghệ An) để sang Lào thì gặp địch tập kích bằng không quân. Con đường số 7 độc đạo nhanh chóng bị bom địch khoan từng dãy hố sâu. Xe dừng lại và mọi người tản ra. Sau một hồi địch ném bom, bắn phá, ông bị trúng đạn ở lưng nhưng vẫn cố sức đi tìm hai đồng nghiệp của mình. Nhà báo Trần Tuấn bị trúng bom đã hy sinh, còn nhà báo Tô Ân bị thương nặng. Ông nhớ lại: “Tôi giúp anh Tô Ân bò đến bên ụ mối tránh đạn. Anh ấy không còn nói được nhưng vẫn hiểu được lời tôi nói. Anh được đưa đi cấp cứu ở bệnh viện gần nhất nhưng không qua khỏi…”. Nói đến đây, giọng ông bị ngắt lại như có cái gì chắn ngang cổ họng. Mắt ông đỏ hoe, môi run run. Ông ngước nhìn ra hiên cửa như đang sống lại giây phút sinh tử đã vĩnh biệt người thủ trưởng kính mến và người đồng nghiệp yêu quý của mình.
Vẹn nguyên niềm đam mê
Nghỉ hưu đã gần 23 năm, Đại tá Nguyễn Đức Toại vẫn giữ niềm say mê văn chương, báo chí. Ông vẫn thường cộng tác với Báo Quân đội nhân dân, Tạp chí Văn nghệ quân đội… Ông thích sưu tầm những bài báo hay, thông tin mới rồi phô-tô gửi cho bạn bè cùng đọc. Ông nở nụ cười hiền hậu: “Già rồi thì tôi chỉ biết giải trí bằng mấy tờ báo, kiến thức, thông tin mới giúp trí nhớ tốt, tinh thần sảng khoái. Mà cái gì tốt thì mình phải chia sẻ cho mọi người để niềm vui được nhân lên nhiều lần”. Thực đơn tinh thần của ông hàng ngày nhất thiết phải đọc báo và ông luôn theo dõi tin, bài trên Báo Quân đội nhân dân. Mỗi khi đọc được bài báo hay, hoặc chưa hay, ông đều gọi điện để góp ý, hướng dẫn, nhất là đối với cán bộ, phóng viên Ban đại diện phía Nam, Báo Quân đội nhân dân. Ông thường xuyên tham dự các buổi gặp mặt của báo tổ chức để truyền thụ kinh nghiệm, truyền lửa nhiệt huyết cho đồng nghiệp trẻ. Ông còn là hội viên Câu lạc bộ Nhiếp ảnh chiến sĩ.
Trước lúc chia tay, ông nhắn nhủ tôi: “Thời nào cũng vậy, nhà báo chiến sĩ phải xông pha nơi tuyến đầu, luôn luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Thế hệ phóng viên như các cháu cần tích cực đồng hành với Bộ đội Cụ Hồ trên mọi mặt trận, tìm cái đẹp, cái hay để nêu gương, đấu tranh với cái xấu, cái chưa tốt; luôn học hỏi để tiến bộ và dùng thực tế tác nghiệp để rèn luyện ngòi bút, bồi đắp lòng yêu nghề và rèn luyện phẩm chất, đạo đức nhà báo”. Đôi chân ông đã đi khắp chiến trường từ Bắc vào Nam không biết mệt mỏi, nay phải nhờ đến chiếc gậy hỗ trợ. Chẳng ai đứng ngoài quy luật khắc nghiệt của thời gian, nhưng cái tâm, cái tài, ý chí, nhiệt huyết với nghề báo của ông thì còn mãi. Tôi ra về, ông chống gậy tiễn ra cửa. Đứng ở bậc thềm, ông giơ tay chào tôi theo phong cách của một quân nhân. Tôi nghe lòng dậy lên cảm xúc rưng rưng khi nhìn rõ nơi bàn tay phải của ông bị khuyết sâu do thiếu đi một đốt ngón tay. Đó là dấu tích hùng hồn nhất cho cuộc đời hết lòng vì nghề báo của Đại tá Nguyễn Đức Toại, một phóng viên chiến trường lão thành.
Bài và ảnh: LÊ HÙNG KHOA