QĐND Online - Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc, Đường Trường Sơn là một kỳ tích đã góp phần làm nên chiến thắng. Ở đó, những con người kiên gan ngày đêm trinh sát, soi đường, phá đá, mở đường xuyên rừng rậm dưới bom cày đạn xới, chính họ, những người lính thầm lặng đã ngày đêm góp công, góp sức làm nên chiến thắng kỳ vĩ này.
Vững vàng chiếc gậy Trường Sơn
Sáng chủ nhật, chúng tôi tìm về gia đình Thiếu tá Nguyễn Quốc Việt, là cựu chiến binh đường Trường Sơn năm xưa ở ấp Cấp Giang, xã Suối Tre, Long Khánh (Đồng Nai), nguyên là bí thư chi bộ, chủ tịch cựu chiến binh thị xã Long Khánh (Đồng Nai) trong suốt mấy nhiệm kì và vừa nghỉ việc đầu năm 2012.
Ông kể, quê gốc của ông ở làng Tân Hưng, xã Thanh Tân, huyện Thanh Liêm (Hà Nam). Tháng 5-1965, khi chưa tròn 18 tuổi, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ông đã chia tay với gia đình, quê hương, đồng ruộng, lên đường nhập ngũ. “Khí thế hồi ấy sôi nổi lắm chú ạ, nhất là khi biết mình sẽ được đi ngay lên tuyến đầu vào Trường Sơn, mặc dù chưa biết trước nhiệm vụ sẽ làm gì, nhưng vui lắm, cứ nghe hoài bài hát “Chiếc gậy Trường Sơn” là thấy trong lòng rạo rực cả lên, muốn đi ngay, không chần chừ, lấn cấn gì cả”, ông nói.
Ông rời quê hương vào tuyến lửa Trường Sơn khi đã bước vào giai đoạn 2 của quá trình xây dựng tuyến đường lịch sử này, là giai đoạn củng cố và phát triển từ “gùi thồ hàng trên vai bộ đội, sang giai đoạn phá đá mở đường xuyên rừng rậm để những chuyến xe hàng hoá, trang bị vũ khí và con người ngày đêm qua lại đi vào tuyến lửa chiến trường Quảng Trị, Khu 5 và Đông Nam Bộ”.
 |
ông Nguyễn Quốc Việt |
Khi mới nhập ngũ, ông được biên chế về tiểu đội trinh sát thuộc tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 119, còn gọi là Tiểu đoàn Bình Ca (Quân khu Việt Bắc). Sau thời gian huấn luyện tân binh, trên cương vị chiến sĩ trinh sát, thuộc lực lượng cao xạ pháo (phân đội phòng không bảo vệ tuyến lửa Trường Sơn), đến năm 1968, để phù hợp với tình hình nhiệm vụ, Tiểu đoàn của ông đã được đổi thành Tiểu đoàn 2, trực thuộc Binh trạm 34 của Bộ Tư lệnh 559 (Bộ đội Trường Sơn). Sống cùng với anh em trong Binh trạm nhưng làm nhiệm vụ trinh sát mở đường và canh trời, ông đã tham gia nhiều hoạt động trinh sát mở đường, đánh nhiều trận nhớ đời trên tuyến đường này và cũng có nhiều sáng kiến góp phần vào công việc “canh giặc trời” để bảo vệ tuyến đường được thông suốt.
Trên tuyến đường Trường Sơn những năm tháng ác liệt đó, không biết bao nhiêu trận đánh đã diễn ra, “không có ngày, đêm nào là không có máy bay địch hoạt động đánh phá, chúng thường tổ chức đánh theo tốp, từng chiếc cắt bom và bay ra ngay vì sợ lực lượng phòng không của ta, nhưng chúng tôi vẫn nhận ra được những quy luật hoạt động của nó”, ông cho biết.
Địch đã dùng mọi phương tiện hiện đại trinh sát nhằm phát hiện bộ đội ta, các Binh trạm cất giấu, tập kết lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược… Các trang thiết bị nghe, nhìn, thu tín hiệu của chúng rất hiện đại, có thể phát hiện được mọi di biến trên mặt đất. Nhưng ta luôn chủ động nguỵ trang kín đáo, biết phân biệt kịp thời và xử lí tốt, khống chế các loại trang thiết bị trinh sát của địch, nhất là loại “cây nhiệt đới”. Nên đã hạn chế đáng kể việc đánh phá ác liệt của địch.
Trong gian nan sáng tạo nhiệm màu
Đã từng lăn lộn những năm tháng Trường Sơn, ông vẫn như thuộc nằm lòng về các địa điểm trên huyết mạch quan trọng này. Nào Xuân Sơn điểm khởi đầu của Đường 20 Quyết Thắng, nào dốc Talê, Pulanhích, cua chữ A, dốc Con Mèo… chứng kiến sự hy sinh gian khổ của đồng đội, ông cảm phục sức cảm hoá của đội ngũ cán bộ các cấp trong công tác tư tưởng, giáo dục bộ đội: “Lính ta trẻ măng, chỉ mười chín đôi mươi, ở nhà nhiều cậu chắc còn sợ ma, không dám ra đường một mình. Thế mà khi vào Trường Sơn làm nhiệm vụ lái xe một mình vượt Trường Sơn, không sợ bất cứ điều gì. Chết cũng một mình, bị thương cũng một mình. Bắn 4 phát là có thương binh tử sĩ, ba phát là tắc đường, hai phát là thông đường và nếu một tiếng AK là không vấn đề gì, cứ thế mà tiến. Đó là kí tín ám hiệu của Bộ đội Trường Sơn chúng tôi”. Mùa khô thì tiến đánh, trinh sát mở đường, mùa mưa thì cất pháo, trang bị và đi trinh sát để mở đường…
Ông có nhiều kỷ niệm, nhưng có một kỷ niệm làm ông nhớ mãi và luôn day dứt là trận đánh tại km 26 (đường B45). Vào một chiều đầu năm 1968, đế quốc Mỹ cho máy bay trinh thám đi trước, sau đó dùng máy bay đánh phá ác liệt vào trọng điểm Binh trạm 34 của ông. Sau trận đánh, bộ đội ta rất anh dũng bắn trả quyết liệt và làm bị thương máy bay địch.
Khi trinh sát phát hiện có vệt máy bay địch bị cháy cách vị trí đơn vị khoảng 3 km, đơn vị cử ông và Trung đội phó Lanh (quê Hải Dương) cùng đi tìm vệt khói nghi ngờ là máy bay cháy giữa rừng mênh mông. Hai ông nhận nhiệm vụ và leo lên xe hành quân đi suốt hơn hai ngày, tìm khắp những vệt khói có thể trên đường rừng Trường Sơn, nhưng không thể phát hiện ra, nên đành quay về đơn vị cũ. Nhưng khi quay trở lại, địch lại đánh phá vào trọng điểm của đơn vị ông, nhiều đồng chí của một đơn vị hành quân từ miền Bắc vào, chủ yếu là thanh niên quê Thanh Hoá, Phú Thọ vừa huấn luyện xong, trên đường vào Nam. Bom Mỹ đã đánh trúng đội hình, nên số hy sinh trong trận này là khá đông! Khi đến nơi, ông đã cùng ông Lanh nhanh chóng báo về cho cấp trên để kịp thời xử lý, hơn 40 ngội mộ nằm lại trên đầu dốc tại km 39 trên tuyến đường 45B. Chỉ mấy ngày sau, người đồng đội vừa mới đi cùng ông tìm kiếm xác máy bay của địch bị rơi (ông Lanh, quê Hải Dương) cũng hy sinh anh dũng trong một trận tập kích đường không bằng bom B52 của Mỹ.
Có thể nói, tính từ năm 1965, sau thời gian huấn luyện, ông Việt đã có mặt suốt những năm tháng trên tuyến lửa Trường Sơn, với nhiều cương vị khác nhau, nhưng ông luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Chính trong gian nan, bom rơi đạn nổ, trong hoàn cảnh khó khăn, ông cũng là người đã nghiên cứu thành công thước mô hình xác định độ cao của máy bay các loại bằng phương pháp thủ công, từ vật liệu là các mảnh máy bay của địch. Khi sử dụng thước đo độ cao này, các pháo thủ của ta trên mâm pháo sẽ ước lượng được cự ly, độ cao, cùng với các phần tử trên máy ngắm và ống kính đo xa của các trắc thủ, sẽ cho ra nhanh kết quả, giúp cho khẩu đội trưởng quyết định hạ lệnh phần tử bắn tiêu diệt máy bay khi đã vào vị trí tầm và hướng bắn có hiệu của các loại pháo cao xạ.
Với việc sáng kiến ra thước đo độ cao của máy bay, sản phẩm của ông nhanh chóng được phổ biến trong các đơn vị phòng không trên tuyến lửa và áp dụng để xác định độ cao chính xác và tiêu diệt ngày càng nhiều máy bay địch. Cũng chính từ sáng kiến này, khi đơn vị ông đã lùi vào sâu đóng quân bảo vệ bến phà Long Đại, ông đã được cấp trên khen thưởng, được đi báo cáo 14 năm mừng công của Bộ đội Trường Sơn (Đoàn 559) ở xã Hiền Minh, huyện Quảng Ninh (Quảng Bình), được trực tiếp Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắt tay.
Sau Hiệp định Paris, tiểu đoàn của ông đã phát triển thành Trung đoàn pháo cao xạ 31 của Bộ tư lệnh 559. Trên cương vị đại đội phó Đại đội 40 thuộc Trung đoàn 232 (Quân đoàn 3), ông lại hành quân cùng đồng đội tham gia tích cực vào chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trực tiếp chiến đấu từ hướng tây. Đi theo chiến dịch từ Tây Nguyên xuống Bến Cát về Gia Lai cho đến ngày nghỉ chế độ. Nghỉ hưu nhưng không nghỉ việc, ông đã đảm nhiệm các cương vị từ chủ tịch hội cựu chiến binh, chủ tịch phường, bí thư chi bộ... dù ở cương vị nào, phẩm chất bộ đội Trường Sơn trong ông vẫn toả sáng. Giờ ông sống thanh thản cùng với vợ con trong căn nhà đơn sơ mà ấm cúng tại ấp Cấp Giang, xã Suối Tre, thị xã Long Khánh (Đồng Nai).
Bài, ảnh: NGUYỄN MINH ĐỨC