QĐND Online - Cách nay chừng hơn 6 năm, Xã biên giới Trung Lý (huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa) còn “trắng” đảng viên. Trong số 21 bản trên toàn xã thì 12/12 bản của người dân tộc thiểu số ở đây đều chưa có chi bộ. Nay thì đã khác, từ chỗ chỉ có 96 đảng viên (năm 2006), đến nay, toàn xã đã có 126 đảng viên, tất cả các bản đều có chi bộ. Để có được kết quả ấy, có phần đóng góp không nhỏ của người lính mang quân hàm xanh thuộc Đồn Biên phòng Trung Lý. Anh là Thiếu tá QNCN Phạm Văn Tôn, được điều động về “cắm bản” làm Phó Bí thư Đảng ủy xã từ năm 2007...
Xóa chi bộ ghép và bản “ trắng” đảng viên
Trung Lý là một xã vùng cao biên giới huyện Mường Lát, có diện tích tự nhiên trên 17.000ha, chung đường biên giới 6km với cụm Nặm Ngà- xã Viêng Xay, huyện Hủa Phăn, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Xã có 16 thôn bản, 4 dân tộc anh em sinh sống bao gồm: Mông, Mường, Thái và dân tộc Kinh. Những năm qua, được Đảng, Nhà nước quan tâm, đầu tư về nhiều mặt, nhưng kinh tế, xã hội của Trung Lý còn gặp nhiều khó khăn; trình độ dân trí thấp, kinh tế phát triển chậm, hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ từ xã đến thôn bản chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Trước khi Thiếu tá Tôn về tăng cường (tháng 6-2006 trở về trước), xã Trung Lý có 1 Đảng bộ, 5 chi bộ trực thuộc, với 80 đảng viên, nhưng duy nhất chỉ có 1 đảng viên là người dân tộc Mông. 11/12 bản người Mông chưa có đảng viên; 12/12 bản Mông chưa thành lập chi bộ. 5 Chi bộ thôn bản trực thuộc cũng hoạt động cầm chừng, hàng tháng không ra được nghị quyết, mọi công việc đều do trưởng bản chỉ đạo và tổ chức thực hiện theo kế hoạch của UBND xã.
Đảng ủy xã đủ số lượng, nhưng chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ; công tác bồi dưỡng cán bộ kế cận, lâu dài còn hạn chế. Được điều về tăng cường, việc làm đầu tiên của Thiếu tá Phạm Văn Tôn là tham mưu cho Đảng ủy xã ra nghị quyết chuyên đề tập trung củng cố hệ thống cơ sở Đảng và phát triển đảng viên, đặc biệt là đảng viên người dân tộc Mông và giao chỉ tiêu cho từng chi bộ, tổ chức quần chúng phát hiện, bồi dưỡng những quần chúng ưu tú để tạo nguồn phát triển Đảng.
 |
Thiếu tá Phạm Văn Tôn, Phó Bí thư Đảng ủy xã Trung Lý ( bên trái), hội ý công việc với Chủ tịch xã Lộc Văn Hiến. |
Không dừng lại ở việc ra nghị quyết, Thiếu tá Tôn cũng là người trực tiếp xuống địa bàn gặp gỡ các già làng, trưởng bản người dân tộc Mông, tuyên tuyền vận động để họ về vận động, bồi dưỡng những thanh niên ưu tú của bản, dòng họ phấn đấu vào Đảng. Trong đó tập trung vào các bản Mông, nhằm xóa bản “trắng” đảng viên. Mục tiêu là vậy, tuy nhiên, để thực hiện nhiệm vụ này cũng không thật đơn giản, vì qua khảo sát dân cư, phần nhiều không thuần nhất bởi nhiều hộ di cư từ các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái về, nguồn đủ tiêu chuẩn vào Đảng ở các bản hầu như không có do trình độ không đồng đều. Nhiều quần chúng tốt nhưng mới chỉ được học qua hết lớp 5, khó khăn chồng chất, công tác bồi dưỡng kèm cặp phát triển đảng viên mới ở Trung Lý có thời điểm bế tắc tưởng chừng đi vào ngõ cụt.
Qua nhiều đêm trăn trở và một phương án được anh cân nhắc và đưa ra bàn bạc với các đồng chí trong Đảng ủy xã là cùng với việc báo cáo với trên cân nhắc điều chỉnh các tiêu chí kết nạp đảng cho phù hợp với đặc điểm tình hình vùng biên, với đặc thù phần đông là đồng bào dân tộc thiểu số. Đồng thời, tiến hành phối hợp rà soát, lựa chọn, bồi dưỡng số quần chúng đang theo học Trung học cơ sở để khi đủ tuổi cử đi học lớp cảm tình Đảng. Với cách làm này, năm 2008, anh đã tham mưu với Đảng ủy xã Trung Lý tuyển lựa 40 quần chúng là đoàn viên có chí hướng phấn đấu tốt đi học lớp cảm tình Đảng. Đến đầu năm 2014 này, tổng cộng đã có 84 đoàn viên được cử đi học lớp cảm tình Đảng. Trong đó, tổ chức kết nạp 69 quần chúng ưu tú là con em của đồng bào dân tộc Mông đứng trong hàng ngũ của Đảng.
Nhớ lại những chuyến đi đầy vất vả, cùng với Bí thư chi bộ các bản Nà Ón, Cò Cái, Pá Quăn... hành quân hàng trăm ki-lô-mét đường rừng sang các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái để thẩm tra lý lịch đảng đối với những quần chúng người Mông theo gia đình di cư về địa bàn xã, anh Tôn đã tiết lộ nhiều chi tiết dở khóc, dở cười. Anh nói rằng, nếu không có sự sâu sát, hiểu phong tục tập quán của đồng bào, không có trách nhiệm, cái tâm và tình yêu thương con người thì chỉ còn nước... bỏ cuộc. Một trong những câu chuyện mà anh Tôn nhớ lại là đợt đi thẩm tra lý lịch cho quần chúng Phàng A La ở bản Phiềng Pa, xã Kim Bon, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Sau khi vượt hàng trăm ki-lô-mét đường rừng, lần hỏi mãi mới tới được UBND xã, nhưng tới nơi thì đồng chí Bí thư Đảng ủy xã không có mặt ở nơi làm việc, hỏi ra thì biết, chiều thứ 6 vị Bí thư đã “tranh thủ” về giúp vợ trồng măng bát độ trên đồi. Lần đến tận nơi, ông này vẫn chưa chịu hợp tác, bởi còn mải giúp vợ trồng tre cho kịp trời mưa. Vậy là anh và người Bí thư chi bộ đi cùng phải xắn tay vào giúp, xong việc về nhà lại phải "hầu” một trận rượu tơi bời mới được bí thư xác minh vào lý lịch. Vất vả là thế nhưng cũng có những lần lặn lội đi thẩm tra mà không đem lại kết quả bởi trước khi theo gia đình di cư về tỉnh Thanh Hóa, nhiều quần chúng không có đăng ký hộ khẩu tại xã, khi đi cũng không báo cáo với chính quyền, do vậy địa phương cũ nhất quyết không xác nhận, vậy là đành chịu.
Từ sự sâu sát, tinh thần trách nhiệm với đồng bào ruột thịt, người lính nơi biên cương xanh, Thiếu tá Phạm Văn Tôn đã dành hết tâm sức của mình cho công tác xây dựng cơ sở chính trị ở Trung Lý, đặc biệt là công tác tạo nguồn và phát triển đảng viên, từ chỗ toàn xã chỉ có 96 đảng viên (tháng 6-2009), thì đến tháng 1-2014, đã kết nạp được 126 đảng viên. Trong đó, đảng viên là đồng bào Mông 67 đồng chí, hiện nay đã xóa được bản “trắng” đảng viên và chi bộ sinh hoạt ghép. Câu chuyện về người lính mang quân hàm xanh góp công trong việc xóa chi bộ “ghép” và bản “trắng” đảng viên sẽ còn được nhắc nhiều trên vùng địa đầu Tây Bắc này.
Trăn trở để thoát nghèo bền vững
Mặc dù có nhiều cố gắng, đạt được nhiều kết quả quan trọng tăng trưởng kinh tế khá, bình quân hằng năm giai đoạn (2006-2012) tăng 6,2 %, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Tuy nhiên, công tác xóa đói giảm nghèo của Trung Lý vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, kết quả giảm nghèo chưa được bền vững, tỷ lệ hộ hộ nghèo còn khá cao, chiếm 62,5%. Trong số 26 thôn, bản trong toàn xã còn có 16 thôn, bản rất nghèo so với các xã trong toàn huyện, nhất là các bản giáp tuyến sông Mã.
Nhấp ngụm chè đặc quánh, Thiếu tá Phạm Văn Tôn phân tích cho chúng tôi những nguyên nhân, hạn chế, yếu kém bấy lâu còn tồn tại ở Trung Lý. Trong đó, có những nguyên nhân khách quan do điều kiện tự nhiên không thuận lợi, xuất phát từ kinh tế, xã hội, dân trí thấp, phong tục tập quán còn lạc hậu. Song, theo anh, nguyên nhân chủ yếu vẫn do một bộ phận người dân nhận thức về công tác xóa đói giảm ngheo còn hạn chế, trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước, chưa có ý thức tự vươn lên thoát nghèo... Bắt mạch đúng những nguyên nhân hạn chế, yếu kém, một vấn đề đặt ra đòi hỏi phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo trên phạm vi toàn xã, phát huy những kết quả, khắc phục những tồn tại, hạn chế, yếu kém, tạo những chuyển biến trong phát triển kinh tế, giữ vững trật tự, an toàn xã hội.
Gần 30 năm tuổi quân và cũng chừng ấy năm bám dân, bám bản, gắn bó với đường biên cột mốc vùng Tây Bắc và cũng gần 6 năm được điều động về giữ chức Phó bí thư Đảng ủy xã Trung Lý, vùng đất này đã trở lên rất đỗi thân thương với người lính quân hàm xanh quê huyện Thọ Xuân của Tỉnh Thanh Hóa này. Thiếu tá Nguyễn Văn Tôn chia sẻ với chúng tôi rằng: Nghị quyết về công tác xóa đói giảm nghèo đã có và cả kế hoạch cũng rất cụ thể, dù vậy, không thể chỉ dừng lại trên mặt mặt giấy tờ, đồng bào các dân tộc ở nơi đây rất cần sự “cầm tay, chỉ việc”, một việc làm tốt còn hơn vạn lời nói suông.
 |
Đồng bào các dân tộc ở nơi đây rất cần sự “cầm tay, chỉ việc”, một việc làm tốt còn hơn vạn lời nói suông. |
Nhiều năm nay, bà con dân bản ở khu vực các bản Pá Năm, Nà Ón, Cò Cái, Pá Quăn và Lìn đã quen với bước chân và giọng nói của người Phó bí thư Đảng ủy xã-người lính quân hàm xanh ấy, bằng những việc làm cụ thể, làm cho họ tin, yêu và hiểu rằng phải loại bỏ tư tưởng trông chờ, ngại khó, xóa bỏ tâm lý tự ti, cam chịu, trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng xã hội. Ông Sùng A Nhà, Trưởng bản Nà Ỏn, xã Trung Lý là một trong những người đi đầu trong đổi mới cách nghĩ, cách làm. Còn nhớ 6 năm về trước, gia đình ông còn là hộ nghèo, thiếu đói thường xuyên. Đúng lúc ấy, nhiều cuộc họp dưới sự chủ trì của Phó bí thư Đảng ủy Phạm Văn Tôn đã diễn ra ngay tại nhà trưởng bản. Nhiều hộ dân đã được tuyên truyền hướng dẫn cách trồng lúa nước 2 vụ; cách chăn nuôi gia súc, gia cầm đúng kỹ thuật và cách đề phòng dịch bệnh... Ban đầu, nhiều hộ người Mông còn chưa tin, ngại khó, ngại khổ, chỉ đến khi tận mắt nhìn thấy bồ thóc của nhà trưởng bản Sùng A Nhà ngày một đầy hơn; những nương sắn hàng hóa mỗi vụ cho thu hàng chục triệu đồng, trong chuồng lúc nào cũng có 2 cặp trâu, bò béo múp... thì họ mới tin rồi bảo nhau làm theo. Sùng A Nhà cho biết, ở Nà Ỏn bây giờ nhiều hủ tục đã bị đẩy lùi không còn tình trạng người chết để trong nhà đến 7-8 ngày mới đem đi mai táng; chuồng trâu, chuồng lợn đã được tách ra xa chứ không còn tình trạng làm sát khu vực nhà ở, bởi sợ con ma rừng sẽ về bắt mất như trước nữa. Nếu như 5 năm về trước, cả bản chẳng có hộ nào đủ ăn, thì bây giờ số hộ nghèo, thiếu ăn giảm còn phân nửa. Có được kết quả ấy, có công đóng góp rất lớn của Bộ đội Biên phòng Trung Lý, đóng góp của người Phó bí thư Đảng ủy xã mang quân hàm xanh Phạm Văn Tôn.
Trên con đường mòn từ Nà Ỏn về trung tâm xã, Anh Tôn khoát tay về phía những kho lương thực của người Mông ven những triền rừng bộc bạch: Cùng với Nà Ỏn, nhiều bản khác của Trung Lý như Pá Năm, Nà Ón, Cò Cái, Pá Quăn và Lìn đã tin theo Nghị quyết, nghe theo Bộ đội Biên phòng, từng bước đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, diện tích ruộng bậc thang dùng cho cấy lúa hai vụ tiếp tục được mở rộng trên 60ha. Những nơi không có điều kiện làm lúa nước thì chuyển sang trồng hoa màu, trồng cây công nghiệp, trồng rừng kinh tế, trồng cỏ nuôi bò, có giá trị kinh tế cao hơn để đổi lấy lương thực... Nhờ tuyên tuyền tốt, ở Trung Lý bây giờ, đồng bào đã khắc phục triệt để tình trạng chăn nuôi chăn thả tự nhiên, chuyển sang nuôi nhốt chuồng trại bảo đảm an toàn vệ sinh, an toàn dịch bệnh... Từ đổi mới cách nghĩ, cách làm, bây giờ, nhiều hộ dân người Mông ở Trung Lý đã có bát ăn, bát để, thoát nghèo.
 |
Bộ mặt nông thôn ở Trung Lý hôm nay có sự đổi thay đáng mừng |
Trung Lý hôm nay đã có những bước chuyển đáng mừng nhất là trong nếp nghĩ, cách làm của đồng bào, mà sao trong ánh mắt của người cán bộ cắm bản vẫn chưa hết ưu tư. Chúng tôi chia sẻ với những trăn trở của người cán bộ cắm bản bởi rằng, Trung Lý có tăng trưởng kinh tế hằng năm tương đối khá, nhưng vì xuất phát điểm thấp, nên hiện tại, tỷ lệ hộ hộ nghèo còn khá cao, chiếm 62,5%. 16 thôn, bản trong xã còn rất nghèo so với các xã trong toàn huyện, nhất là các bản giáp tuyến sông Mã. Anh Tôn nói rằng, mục tiêu tổng quát giảm nghèo đến năm 2020 xác định, tạo cơ hội và điều kiện cho hộ nghèo tự lực vươn lên phát triển kinh tế, tăng thu nhập, thụ hưởng các chính sách xã hội, phấn đấu giảm nghèo 5 % một năm, thu hẹp khoảng cách giữa miền núi với các vùng khác trong tỉnh. Để đạt được điều đó theo quan điểm của anh cần tiếp tục tập trung đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo, hộ nghèo, có như vậy mới giảm nghèo nhanh và bền vững được. Anh cũng cho rằng, công tác giảm nghèo ở Trung Lý vừa là nhiệm vụ cấp bách vừa là nhiệm vụ lâu dài, do đó, phải thực hiện một cách đồng bộ, kiên trì, liên tục, quyết liệt, phù hợp với điều kiện tự nhiên của xã. Để đạt được mục tiêu đặt ra, còn cả chặng đường khó khăn ở phía trước, nhưng, tin rằng, với chủ trương và hướng đi đúng đắn, lại có một người cán bộ cắm bản trách nhiệm, có tâm, có tầm, hết lòng vì bà con dân bản như anh Tôn thì nhất định những mục tiêu no ấm ấy không phải là quá xa vời.
Bài, ảnh: DUY ĐÔNG- MÈ THẮNG