Vào những năm cuối của thập kỷ 50 (thế kỷ 20), tình hình miền Nam vô cùng đen tối. Mỹ-Diệm điên cuồng xé bỏ Hiệp định Giơ-ne-vơ, đàn áp dã man những người theo kháng chiến cũ, dìm cách mạng miền Nam vào trong bể máu. Được sự tiếp sức của Mỹ, Diệm thành lập một đội quân quốc gia gồm 15 vạn tên do Mỹ huấn luyện và cung cấp vũ khí. Có chính quyền và quân đội trong tay, Diệm ra sức đàn áp tiêu diệt lực lượng vũ trang của các giáo phái, đồng thời khủng bố trả thù, giam cầm giết hại những người kháng chiến cũ. Từ năm 1950 đến 1958, ở Nam Bộ có đến 90 vạn cán bộ, đảng viên bị bắt, bị tù đày, 7 vạn cán bộ, đảng viên bị giết. Cả Nam Bộ chỉ còn 5.000 đảng viên.

Đồng chí Lê Duẩn đọc Báo cáo chính trị tại Đại hội III của Đảng (tháng 9/1960) - ảnh: tư liệu

Tháng 10-1954, đồng chí Lê Duẩn được Bộ Chính trị cử vào miền Nam chủ trì Hội nghị các đảng bộ miền Nam họp tại Cà Mau để thành lập Xứ ủy Nam Bộ. Tại hội nghị này, đồng chí được bầu làm Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, trực tiếp lãnh đạo cách mạng miền Nam. Con đường đấu tranh tìm đường giải phóng miền Nam của đồng chí Lê Duẩn bắt đầu từ sự kiện quan trọng này.

Trên cương vị là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, đồng chí Lê Duẩn đã cùng với các đồng chí lãnh đạo trong Xứ ủy Nam Bộ, lãnh đạo các địa phương ở miền Nam lăn lộn trong phong trào quần chúng, từ bưng biền, rừng núi, đến đô thị để nắm bắt tình hình, gây dựng lại bộ máy tổ chức Đảng, tiếp tục phát động quần chúng đấu tranh, nhen nhóm lại phong trào cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang. Cùng với phong trào hòa bình, chống chính sách “tố Cộng”, “diệt Cộng” của Ngô Đình Diệm, tại nhiều nơi ở Nam Bộ đã xuất hiện những hình thức tổ chức vũ trang, dưới danh nghĩa các đội “Dân canh chống cướp” để bảo vệ xóm làng, bảo vệ cách mạng. Từ năm 1956, Nam Bộ đã thành lập được một số đơn vị vũ trang hoạt động dưới danh nghĩa “bộ đội giáo phái” mà phần lớn là cán bộ, chiến sĩ du kích trong thời chống Pháp. Theo chỉ thị của đồng chí Lê Duẩn, một số căn cứ kháng chiến cũ ở rừng U Minh, Đồng Tháp Mười, trong rừng dừa Bến Tre... được xây dựng lại. Tuy nhiên, ở thời điểm này, hình thức đấu tranh chính trị có sử dụng bạo lực chính trị đã tỏ ra không đủ mạnh để đối phó có hiệu lực với địch và tạo chuyển biến cơ bản cho tình hình miền Nam.

Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 6-1956 đã đề ra “đấu tranh chính trị không có nghĩa là tuyệt đối không dùng hình thức vũ trang tự vệ trong hoàn cảnh nhất định...”. Từ tháng 8-1956, đồng chí Lê Duẩn viết Đề cương cách mạng miền Nam, trong đó nói rõ: “Nhân dân ta ở miền Nam chỉ có một con đường là vùng lên chống Mỹ-Diệm để cứu nước và tự cứu lấy mình. Đó là con đường cách mạng. Ngoài con đường đó, không có con đường nào khác”. Bản đề cương xác định rõ mục đích, nhiệm vụ và đường lối của cách mạng miền Nam, nêu lên hình thức đấu tranh và khả năng phát triển của phong trào cách mạng miền Nam. Cuối năm 1956, đồng chí Lê Duẩn đã dự kiến mức độ bạo lực phải được nâng cao, song do điều kiện thực tế cũng chưa đề ra được những biện pháp cụ thể, thích đáng để đối phó có hiệu quả với địch, giảm bớt tổn thất của quần chúng.

Tháng 12-1956, Xứ ủy Nam Bộ họp hội nghị để quán triệt Nghị quyết hội nghị tháng 6-1956 của Bộ Chính trị. Hội nghị khẳng định “Con đường tiến lên cách mạng miền Nam là phải dùng bạo lực tổng khởi nghĩa giành chính quyền”, đồng thời đề ra nhiệm vụ tích cực xây dựng lực lượng vũ trang tuyên truyền, thành lập các đội vũ trang bí mật, xây dựng các căn cứ địa rừng núi, tranh thủ vận động, cải tạo, tập hợp các lực lượng giáo phái bị Mỹ-Diệm đàn áp để lôi kéo vào hàng ngũ của nhân dân.

Tháng 5-1957, đồng chí Lê Duẩn ra Hà Nội nhận nhiệm vụ mới và báo cáo với Bộ Chính trị về tình hình miền Nam, về Đề cương cách mạng miền Nam. Báo cáo của đồng chí Lê Duẩn được Trung ương, Bộ Chính trị và Bác Hồ chú ý.

Tháng 1-1959, hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 15 do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa họp ở Hà Nội. Hội nghị đã xác định con đường tiến lên của cách mạng miền Nam, vạch rõ mục tiêu và phương pháp cách mạng miền Nam, mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng ở hai miền Nam, Bắc, giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới... nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất nước nhà, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng quốc tế, bảo vệ hòa bình thế giới. Về cách mạng miền Nam, trên cơ sở phân tích tình hình miền Nam, hội nghị đã khẳng định: “nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam”. Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 (khóa 2) mang tầm lịch sử, có ý nghĩa quyết định và kịp thời tạo ra bước phát triển mới của cách mạng miền Nam mà mở đầu là phong trào đồng khởi trên toàn miền vào cuối năm 1959 và đầu 1960. Bản Đề cương cách mạng miền Nam đã góp phần tích cực chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho phong trào khởi nghĩa từng phần ở miền Nam và góp phần chuẩn bị cơ sở lý luận và chính trị cho Nghị quyết 15 của Trung ương.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 3 của Đảng họp tháng 9-1960, đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng. Khi chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 15, đồng chí chỉ rõ: “Phải thắng địch về quân sự mới giành được thắng lợi cho kháng chiến, cho cách mạng. Đấu tranh quân sự là một hình thức đấu tranh cơ bản có tác dụng trực tiếp trong việc tiêu diệt lực lượng quân sự của địch và do đó đập tan được âm mưu quân sự của địch”.

Lê Quang Thông