Tuổi thơ mất mẹ và không được gặp ba
Bà Minh Vân hiện đang sống tại quận 7, thành phố Hồ Chí Minh. Tôi, một người thuộc thế hệ trẻ đã may mắn được gặp bà trong khuôn khổ một buổi hội thảo về những lá thư chiến trường tại Hà Nội. Trong những ngày cuối tháng 7, cận kề đến kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7-1947/27-7-2017), thì dường như cả nước đều hướng về những công tác tri ân. Và không ngoại lệ, bà Minh Vân đã phải gắng sắp xếp thời gian để bay từ Thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội dự hội thảo, rồi lại vội vã trở về để làm giỗ cho cha.
Bà Đào Thị Minh Vân luôn tự hào vì cả ba và má đều dâng hiến cả cuộc đời cho cách mạng.
Bà Ðào Thị Minh Vân là con gái đầu của nhà tình báo nổi tiếng Hoàng Minh Ðạo. Sinh ra vào đúng ngày Bác Hồ kêu gọi Toàn quốc Kháng chiến 19-12-1946, bà đã có một “tuổi thơ đặc biệt” bởi cả cha và mẹ đều là liệt sĩ. Mẹ của bà là Liệt sĩ Hoàng Minh Phụng, hy sinh tại chiến khu Việt Bắc năm 1948 (khi bé Minh Vân mới 14 tháng tuổi). Chỉ vài ngày sau đó, ông Hoàng Minh Ðạo được cử vào Nam với tư cách là đặc phái viên của Bộ Tổng tham mưu và để xây dựng lực lượng ngành. Tuổi thơ cô bé Minh Vân là những chuỗi ngày dài mong mỏi được gặp cha.
Bà Minh Vân nhớ về những chuỗi ngày tuổi thơ: “Ngày nhỏ, tôi đọc thư ba nhưng chưa hiểu mấy. Đọc xong lại phải đưa lại cho Trung ương Hội. Cha nói cha là lái xe taxi ở Nam Vang, nên tôi đi khoe với bạn bè là ba có ô tô. Những suy nghĩ vô tư, ngây thơ đó của tôi dần chuyển thành tủi hờn, giận dỗi...bởi các bạn bè đều cho ba má. Dù ba má có đi công tác thì cũng tranh thủ những lần đi họp, hay thăm bệnh để ra thăm con, còn tôi chỉ nhận được thư mà ba gửi qua các bác, các chú...”, bà Minh Vân nói trong tiếng nghẹn ngào.
Sau năm 1954, bà mới biết cha mình hoạt động cách mạng, vì nhiệm vụ nên còn phải ở lại miền Nam chiến đấu lâu dài. Cái cảm giác tủi hờn đã không còn nữa, mà nó biến thành tự hào, thành động lực cho mỗi ngày phấn đấu, bởi mẹ và cha đều hy sinh hạnh phúc riêng, cống hiến cả cuộc đời cho cách mạng, cho Tổ quốc, cho độc lập, tự do.
Những lá thư cuối cùng
Tuyển tập “Những lá thư thời chiến Việt Nam” do nhà văn Đặng Vương Hưng biên soạn và sưu tầm có trích 5 lá thư cuối cùng của Liệt sĩ Hoàng Minh Đạo gửi con gái Minh Vân, từ trang 760 đến 767. Những dòng thư nói lên khát khao được ngắm nhìn con gái, được nhìn thấy dòng thư, nét chữ của con, mong ngóng biết được bất kỳ tin tức, chi tiết nhất của con. Và dường như có sự trách móc nhẹ: “Gần đây, ba không nhận được thư nào của con Vân (và cũng đã rất lâu rồi). Không biết Vân có gởi thư mà ba không nhận được? Hay con Vân có chút gì hờn giận về ba không? Ba cũng không được rõ? Nhưng điều ba băn khoăn và cũng có lúc suy nghĩ hơi nhiều là việc không nhận được thư của con Vân???” (Trích thư gửi ngày 5-7-1969 của ba Hoàng Minh Đạo gửi con gái Minh Vân và con trai Minh Ngọc).
Di bút của anh hùng liệt sĩ Đào Phúc Lộc (tức Hoàng Minh Đạo) trong thư gửi ngày 15-12-1968, gửi cho con gái Minh Vân và con trai Minh Ngọc.
Những dòng tâm tư thấm đẫm tình yêu thương con của một người cha đặc biệt, bởi ông Đạo phải xa con từ khi con hơn 1 tuổi, xa cách hơn 20 năm chưa một lần gặp lại...Biết bao nhiêu suy tư không nói hết được thành lời, khi mà vì nhiệm vụ cách mạng, ông không được nói sự thật cho con, không được về ôm ghì con vào lòng cho thỏa nỗi nhớ... Để rồi tình cảm ấy trở thành nỗi giằng xé, khắc khoải, nhớ mong. Nỗi niềm mong nhớ dồn dập, như ông đã viết: “Lúc nào thuận tiện, các con viết thư cho ba từng mẩu, từng việc, từng lúc cũng được. Muốn viết gì thì viết, miễn sao ba có tin, nhận được thư và chữ của các con.”
Hình ảnh in đậm trong ông Hoàng Minh Đạo cho tới tận lúc hy sinh đó là: “Con Vân mới tròn tuổi đã phải xa ba, và khi đó gặp ba lúc nào là đeo bám, bắt ba bồng, bắt ba phải đút cho ăn, khi ba đi công tác là phải tìm cách trốn Vân, nếu không Vân khóc và đòi dữ lắm!” (Trích thư gửi ngày 5-7-1969). Đây cũng là lá thư cuối cùng của ông Hoàng Minh Đạo gửi cho các con của mình. Đêm ngày 24 rạng ngày 25 tháng 12 năm 1969, đoàn công tác của ông trên đường về họp tại Trung ương Cục đã sa vào ổ phục kích của đối phương, ông cùng đồng đội của mình đã anh dũng hy sinh trên sông Vàm Cỏ Đông.
Nỗi niềm đau đáu về cha
Ở tuổi ngoài 70, mái tóc đã bạc trắng, nhưng bà Minh Vân vẫn nhớ từng chi tiết trong thư ba gửi mình. Đó là nỗi đau đáu, là những gì thiêng liêng còn lại của cha mình, mà bà luôn cất giữ trong tim. Bà cũng thấy mình thật may mắn, vì nhận được nhiều thư của cha. Những lá thư đi bằng nhiều đường để đến được tay bà. Có khi đi sơ tán, mất liên lạc, ba con mất liên lạc với nhau. Đó là bởi cuộc chiến tranh quá khốc liệt, lại trong hoàn cảnh đặc biệt, là con của một chiến sĩ tình báo buộc phải ẩn mình để hoạt động cách mạng. Thậm chí khi nhận giấy báo tử của ba, bà cũng được dặn dò kỹ rằng: “Khi ra khỏi cổng, nhớ không được khóc!”
Những giọt nước mắt cứ rơi trên đôi mắt của bà Đào Thị Minh Vân mỗi khi nhắc đến những tình cảm của cha.
Những kỷ vật về ba mà bà giữ được là nhờ cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh giữ và gửi lại cho bà. Những lá thư giấy đã ố vàng, nhưng bà nâng niu như báu vật. Đến giờ thì bà mới hiểu hết tình cảm của ba dành cho mình lớn lao như thế nào .
Bà Minh Vân kể rằng, những bức thư của ba bà thường nói về tình yêu thương, nỗi nhớ của ba dành cho các con với những dặn dò, lo lắng của một người ba ở xa cách... Những dòng kí ức lại tuôn trào mỗi khi bà kể về về những gì mà người ba kính yêu của bà viết cho mình. Trong một bức thư có đoạn: “Nếu con ở ngoài đó, thấy có những bạn bè nào, quần áo đẹp hơn con, có điều kiện sống tốt hơn con thì hãy đừng tủi thân và cũng đừng ghen ghét. Ba đang đi để sau này con được như những người bạn đó.”
Tôi, một người còn rất trẻ và chỉ biết được về cuộc kháng chiến qua những câu chuyện lịch sử. Hôm nay tôi được gặp một người và cảm nhận được ở bà nghị lực hiếm có và sự hy sinh bản thân mình cho cách mạng. Bà Minh Vân bộc bạch: “Cha tôi viết về hãnh diện khi má hai đi tù Côn Đảo trong chín năm mà vẫn giữ được bí mật đến tận cùng. Má quyết không khai là cán bộ Quân báo Nam bộ. Ba tôi nói với các con rằng: Hãy sống bằng nghị lực và sự kiên cường như thế... ”.
Những lá thư, những lời nhắn nhủ của ông Hoàng Minh Đạo đã truyền cho chị em bà Minh Vân ý chí, nghị lực và sự can trường, để cả bốn chị em của bà đều vượt mọi khó khăn và trưởng thành như ngày hôm nay. Bà Minh Vân thành đạt trong kinh doanh, còn các em của bà đều là tiến sĩ, phó giáo sư...
Bài, ảnh: THÙY DƯƠNG