QĐND Online - Cán bộ, chiến sĩ khối cơ quan sư đoàn bộ ở Sư đoàn 395 (Quân khu 3) thường gọi Thiếu tá QNCN Trịnh Công Đức, Trạm trưởng Trạm chế biến tập trung bằng cái tên mộc mạc như thế. 23 tuổi quân, cũng là ngần ấy năm Trịnh Công Đức gắn bó với nghề “làm dâu trăm họ”. Vất vả, khó khăn là vậy, nhưng năm nào anh cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và được cấp trên khen thưởng. Từ năm 2006 đến nay, anh liên tục được bình bầu là chiến sĩ thi đua cấp cơ sở. Năm 2010, anh vinh dự được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen...

Vừa tròn 18 tuổi, Trịnh Công Đức nhập ngũ vào Trung đoàn 43 (Sư đoàn 395). Nhận thấy anh nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao nên khi kết thúc khoá huấn luyện chiến sĩ mới, đơn vị cử anh đi học lớp sơ cấp hậu cần tại Trường Quân sự Quân khu 3. Tại đây, anh vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng và là đảng viên trẻ nhất của nhà trường thời điểm đó. Tốt nghiệp, Đức trở về đơn vị cũ, làm quản lý bếp ăn Tiểu đoàn 7. Vừa làm, anh vừa tranh thủ học thêm. Năm 1998, anh tốt nghiệp Trường Cao đẳng Kinh tế tỉnh Quảng Ninh và được điều về làm Trạm trưởng Trạm chế biến, Phòng Hậu cần cho đến nay.

Lúc ấy, Trạm mới đi vào hoạt động được hơn 1 năm nên còn tạm bợ; trang bị, dụng cụ làm việc cũng rất đơn sơ; quân số của Trạm lúc cao nhất cũng chỉ có 4 đến 5 người. Vì thế, công việc của anh em khá vất vả, hầu như không có ngày nghỉ. Điều anh trăn trở nhất là trong điều kiện giá cả thị trường luôn biến động, làm thế nào để khai thác, bảo đảm được nguồn cung cấp thực phẩm ổn định, có chất lượng và phù hợp với túi tiền bộ đội.

Anh Đức hướng dẫn nhân viên chế biến nước mắm.

Thời gian đầu, do nguồn cung trong đơn vị có hạn, lại thiếu vốn nên nhiều thời điểm, Trạm chưa hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên, vốn năng động, chịu khó, Đức không  chịu bó tay. Tranh thủ những ngày cuối tuần, khối lượng công việc có giảm đi đôi chút, anh cùng chiếc Mink, tài sản đáng giá nhất của Trạm lúc bấy giờ, rong ruổi khắp hang cùng, ngõ hẻm trên địa bàn khu vực để tìm nguồn thực phẩm. Nghe nơi đâu có nguồn thực phẩm rẻ là anh có mặt ngay. Có những lần, anh còn vượt đèo, lội suối đến tận những xã vùng núi cao Yên Giang, Hiệp Hòa, Phong Cốc... để mua hàng. Vất vả và không kém phần nguy hiểm nhưng bù lại, anh rất vui vì mua được những loại thực phẩm với giá khá rẻ so với mua tại địa bàn đóng quân. Nhiều loại rau, củ, quả mua tại đó có giá chỉ bằng phân nửa. Lợn thịt cũng vậy, giá cũng hạ hơn từ 10 đến 12%.

Điều làm nên thương hiệu “Đức đa năng” chính là sự năng động, dám nghĩ, dám làm của anh. Nhận thấy tiềm năng phát triển chăn nuôi của đơn vị khá dồi dào song chưa được khai thác, năm 2003, Đức mạnh dạn đề nghị và được chỉ huy Phòng Hậu cần cho Trạm tổ chức chăn nuôi lợn thịt, quy mô khoảng từ 40 đến 50 con. Ngoài 45 triệu đồng được Phòng cấp ứng làm vốn ban đầu, Đức vay mượn thêm từ bạn bè, người thân 50 triệu đồng, rồi cùng anh em trong Trạm bắt tay sửa chữa, nâng cấp chuồng trại, mua lợn về nuôi. Thức ăn cho lợn chủ yếu tận dụng các loại bã đậu, cơm thừa, canh cặn, rau xanh tự trồng và bổ sung thêm cám tăng trọng... “Vạn sự khởi đầu nan”- lứa nuôi đầu tiên, do mua phải giống lợn chất lượng thấp nên lời lãi thu về không đáng kể. Rút kinh nghiệm, các lần sau, anh trực tiếp về tận Trại lợn giống Đông Triều ký hợp đồng mua giống lợn siêu nạc. Lợn giống ở đây bảo đảm chất lượng, hàng tháng lại được bao tiêu tiêm phòng nên cũng giúp anh yên tâm hơn.

Việc chăn nuôi lợn đang trên đà phát triển thuận lợi thì bỗng nhiên gặp trắc trở. Năm 2006, hầu hết các xã trên địa bàn đơn vị đóng quân bùng phát dịch lợn tai xanh, khiến nhiều chủ chăn nuôi trắng tay do đàn lợn bị chết hàng loạt. Để bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe bộ đội, chỉ huy đơn vị yêu cầu anh tiêu hủy đàn lợn hiện có mặc dù lúc ấy, dịch vẫn chưa lây lan vào đơn vị. Tiếc công sức, vốn liếng nhưng anh không do dự tiêu hủy đàn lợn gần 50 con đang trong kỳ phát triển... Sau lần đó, mọi người đều nghĩ, tinh thần của anh sẽ bị dao động ít nhiều. Nhưng không, thời gian sau, khi dịch qua đi và được cấp trên cho phép nuôi lợn trở lại, anh lại động viên anh em trong Trạm khẩn trương bắt tay vào khôi phục đàn lợn nuôi. Do đã tích lũy được kinh nghiệm nên việc chăn nuôi lợn của Trạm duy trì và phát triển tốt. Mỗi năm, Trạm tổ chức nuôi 4 lứa, thu về khoảng từ 11 đến 12 tấn lợn hơi cùng hàng chục triệu đồng tiền lãi. Số tiền lãi thu được, một phần anh dành để tái sản xuất, một phần trích ra cho đơn vị ăn thêm những dịp lễ, Tết.

Cùng với phát triển chăn nuôi lợn, anh cùng anh em mở mang diện tích trồng trọt, tạo thêm nguồn cung cấp rau xanh. Do đứng chân trên vùng đất sỏi, đá, thiếu nước tưới nên Trạm chủ yếu trồng các loại cây dễ chăm sóc, có khả năng chịu hạn tốt, như đu đủ, chuối xanh; kết hợp với tận dụng các loại tre, gỗ sẵn có, đổ thêm cột bê tông, giăng lưới sắt để làm giàn, trồng các loại cây dây leo, như: su su, bí xanh, mướp... Để cải tạo đất, anh cùng anh em lấy các loại cây phân xanh, băm nhỏ, trộn đều với bùn ao, vôi tả, đem ủ kỹ cho hoại mục, bón lót vào từng hốc cây. Nhờ đó, các loại cây trồng của Trạm phát triển tốt, cho thu hoạch hàng tấn rau, củ, quả các loại mỗi năm.

Vốn là người rất năng động, nhạy bén nên khi nhận thấy đơn vị hằng ngày phải sử dụng nước mắm mua ngoài thị trường, vừa đắt, vừa không kiểm nghiệm được chất lượng và bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, anh nảy ra ý tưởng làm nước mắm cung cấp cho bộ đội sử dụng. Sau khi cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng, anh lập kế hoạch, báo cáo chỉ huy cho phép Trạm triển khai làm nước mắm. Vốn liếng ban đầu của anh cũng chỉ là mấy bài học làm nước mắm ở trường sơ cấp, nhưng điều đó không làm anh nao núng. Sau khi mua sắm đầy đủ dụng cụ cần thiết, anh đến tận các cửa biển để mua cá, chuyển về để làm nguyên liệu chế biến... Mẻ nước mắm đầu tiên “xuất xưởng” có chất lượng khá tốt, giá thành lại chỉ bằng 70% giá thị trường, được bộ đội rất khen ngợi. Điều đó đã khuyến khích anh đầu tư, mở rộng khu chế biến. Tuy quy mô sản xuất của Trạm còn nhỏ song đủ khả năng cung ứng nước mắm cho các bếp ăn khối cơ quan sư đoàn bộ và các phân đội trực thuộc khối sư đoàn bộ. Anh còn dự định, một vài năm nữa, sau khi tích lũy thêm kinh nghiệm và vốn, anh sẽ mở rộng sản xuất, cung cấp đủ nước mắm cho toàn bộ các bếp ăn của Sư đoàn và đáp ứng một phần nhu cầu của nhân dân khu vực đóng quân…

Đời sống bộ đội khối cơ quan sư đoàn bộ ở Sư đoàn 395 những năm gần đây luôn ổn định và giữ vững. Một phần trong đó có đóng góp của Thiếu tá QNCN Trịnh Công Đức. Nhận xét về anh, Thượng tá Hà Đức Cường, Chủ nhiệm Hậu cần rất tự hào: “Đồng chí Đức là nhân viên quân nhu năng nổ, nhiệt tình, có trách nhiệm cao; là tấm gương sáng trong phong trào thi đua Quyết thắng của đơn vị...”.

Bài, ảnh: NGUYỄN QUANG TRIỆU