 |
 |
|
Bà Trần Thị Tiếp, hơn 40 năm vẫn chờ người lính ấy. |
Bà Trần Thị Tiếp, vợ liệt sĩ Tống Ngọc Lưu ở thôn Kiểu, xã Bích Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã hy sinh cả tuổi thanh xuân của mình chờ chồng đi đánh giặc. Giờ đã ngoài sáu mươi tuổi, bà vẫn nuôi hy vọng tìm thấy mộ chồng mình nằm đâu đó trên mảnh đất lửa Quảng Trị năm xưa bằng cả một tình yêu bất diệt.
Người phụ nữ nhỏ nhắn, thời gian đã làm phai màu tóc, những nếp nhăn, những vết chân chim in hằn trên khuôn mặt nhưng không làm phai mờ vẻ đẹp phúc hậu ở nơi bà. Câu chuyện bà Tiếp kể về chính cuộc đời mình lăn theo dòng nước mắt khiến người nghe không thể kìm được những tiếng nấc dài…
Năm 1965, ở tuổi hai mươi, cuộc tình đẹp như thơ giữa cô thôn nữ Trần Thị Tiếp và chàng trai mới xuất ngũ về làng Tống Ngọc Lưu đã làm cho hai bên gia đình không thể ngăn cản, mặc dù giữa hai nhà không hề “môn đăng hộ đối”. Cuộc sống vợ chồng mặn nồng kéo dài chỉ được một tháng thì họ phải chia ly. Anh Lưu một lần nữa xung phong vào bộ đội.
Sờ tay lên tấm hình người chồng đã hoen ố, ngả màu vàng không còn nhìn rõ mặt, bà Tiếp nghẹn lời: “Khi tiễn anh ấy ra ga Sen Hồ cách nhà chừng 5 cây số, tôi như có dự cảm không lành vì chiếc xe đạp Thống Nhất bị thủng lốp. Trời gần sáng, mưa gió ở đâu kéo về đánh tơi tả những tàu lá chuối hai bên đường…”. Những giọt nước đua nhau lăn dài trên môi, trên má rồi ứ lại mằn mặn ở khóe miệng người vợ trẻ. Tiếng gió bão thét gào như làm tan nát ruột gan của người vợ ấy. Tiếng người chồng văng vẳng bên tai: “Thôi em về đi, đất nước còn chiến tranh, anh không yên lòng. Chờ hòa bình, anh sẽ trở về cùng em…”. Lòng người vợ ấy cứ rối bời, chân tay líu ríu chẳng muốn rời xa, bèn đánh bạo xin chồng cùng đi đánh giặc: “Hay là em đi cùng anh, chứ chiến tranh thế này, không biết sống chết thế nào, rủi anh có mệnh hệ gì, ở nhà em sống sao đành”. Người chồng thuyết phục mãi chị mới đành ra về cùng nỗi buồn của người đưa tiễn.
Thương nhớ người chồng mới cưới lại ra trận mạc chiến tranh, chị chỉ biết làm vui với mấy sào ruộng. Cái tin mình có thai là một niềm vui lớn đối với chị. Thế nhưng, niềm vui vừa được thắp lên thì trong một lần đi làm đồng, chị bị trượt chân, cái thai bị sẩy. Hàng tháng trời sau đó, chị luôn sống trong đau buồn, bệnh tật.
Những lá thư gửi về từ miền lửa đạn luôn làm trái tim chị ngập tràn hạnh phúc. Mỗi lần nhận được thư, lần mò, run rẩy mãi chị mới mở được. Những dòng chữ cứ nhảy múa, nhòe dần đi trong nước mắt. Nhưng những lá thư ấy cũng thưa dần rồi bặt tăm. Sợ điềm dữ nhưng chị vẫn tin và hy vọng một ngày chồng trở về, mặc dù năm 1979 chị nhận được giấy báo tử của anh. Chị cho rằng, sống thì phải còn người mà chết thì phải có thi thể, chị không tin vào tờ giấy báo tử ấy. Chồng chị không thể quên lời hứa sẽ trở về…
Thương người con dâu hiền thảo, nết na, hết mực chăm lo, bố mẹ chồng chị đã nhiều lần khuyên chị đi bước nữa vì chị vẫn còn trẻ đẹp, bao nhiêu người đàn ông muốn theo đuổi và tương lai chị còn dài. Nhưng chị nhất quyết một mực đợi ngày chồng về. Người năm xưa yêu và theo đuổi chân thành nhưng không giành được tình cảm của chị cũng đến mong một hy vọng. Nhưng anh chỉ được nhận là anh em kết nghĩa. Trong tim chị chỉ có duy nhất hình bóng của người chồng…
Năm 1981, chị nhận nuôi một đứa trẻ mới sinh chỉ nặng chưa đầy 2kg, bị mất mẹ. Chị đặt tên con nuôi là Trần Thị Tam. Tam trong chữ “Tam tòng”… để người khác biết rằng trong trái tim chị vẫn khắc khoải đợi chờ… Đến nay, người con gái nuôi ấy đã hơn 20 tuổi, có công ăn việc làm ổn định tại một công ty ở Hà Nội.
Chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm, người vợ ấy một mình hành trình gần 700 cây số từ Bắc Giang đến Quảng Trị đi tìm hài cốt của chồng. 30 năm sau chiến tranh, quá khứ vẫn ào ạt hiện về cùng những giọt nước mắt mằn mặn khi người thương binh già – người đồng đội cũ – chỉ tay xuống nền đất đỏ bạc màu lửa đạn của chiến trường Quảng Trị nghẹn ngào: “Anh ấy nằm xuống chỗ này này…”.
Dọc cuộc hành trình của người phụ nữ lần đầu rời khỏi lũy tre làng Kiểu tới nghĩa trang Hải Lăng được đánh dấu bằng những lời thì thào, những giọt nước mắt chia sẻ. Những người cùng chuyến tàu ai cũng vỗ vào đôi vai gầy, sắp lại nón lá, túi vải cho bà và chúc bà sớm được “đoàn tụ” với chồng. Trung tâm đón tiếp thân nhân liệt sĩ của Bộ LĐ-TB và XH đặt tại Quảng Trị cũng lật từng cuốn sổ dày chi chít chữ giúp bà tìm kiếm tên chồng.
Hai cựu chiến binh cùng đơn vị K10 với liệt sĩ Tống Ngọc Lưu là ông Thơ và ông Đoàn xếp lại việc nhà, cùng lên đường tìm đồng đội sau hàng chục năm mất tin tức. Họ siết chặt những cái bắt tay, ghì vai với người lính già Nguyễn Văn Đàm (người tự nguyện ở lại để được gần đồng đội, chăm sóc những người đã ngã xuống) nước mắt cứ chảy xuôi như những đứa trẻ.
Những làn khói nhang tỏa trắng cả một vùng bia mộ vô danh, tiếng “keng – keng!” phát ra từ hai đồng tiền cổ với lời khấn: “Nếu anh ở nơi này thì báo cho em bằng âm – dương - sấp - ngửa...”. Nhưng những đồng tiền âm dương không thể trả lời bà…
Có lẽ, anh đã mãi nằm lại đâu đó cùng hàng trăm đồng đội của mình bên dòng sông Ô Lâu ôm lấy chân núi vỗ về như ru cho giấc ngủ của các anh. Và bà vẫn chờ đợi và giữ một tình yêu vĩnh cửu...
ĐỨC HẠNH