Quy tập mộ liệt sỹ ở nghĩa trang Trường Sơn.Ảnh: Nguyễn Văn Linh

Từ hơn mười năm nay, cứ mùa khô đến, Đội 589 thuộc Bộ Chỉ huy quân sự (CHQS) tỉnh Quảng Bình lại “tây tiến”, tìm đến heo hút rừng sâu trên dãy Trường Sơn, để lần theo dấu các anh xưa. Đội có 50 người, mỗi người mỗi quê, mỗi người mỗi cảnh. Một chiếc xe U-oát cùng hai chiếc xe Zin 157 là cả phương tiện và doanh trại của chúng tôi. Chiếc thùng xe gần mười mét vuông được chia ra thành kho lương thực, tủ tài liệu, nơi để dụng cụ… Còn người thì cứ việc nằm, ngồi trên những ba lô quân trang. “Xe đầu, tầu cuối”, nơi trang trọng, thoáng đãng và êm ái nhất trên “căn nhà di động” ấy, chúng tôi dành để đón các anh về.

Mấy tháng mùa khô là ngần ấy thời gian chúng tôi xuôi ngược từ Ma-ha-xay đến Khăm-muộn, Pặc-pha-năng… Không ít lần đội chia thành nhiều hướng, mỗi hướng chia thành nhiều mũi. Chúng tôi hành quân đến những điểm được chấm trên bản đồ dựa trên những thông tin lờ mờ, những lá thư của thân nhân liệt sĩ, ký ức của các cựu chiến binh hay những câu chuyện của già làng, trưởng bản… với độ chính xác ở mức “hình như”. Vừa đi, vừa nghỉ, vừa dò tìm, tâm niệm làm sao đón được các anh…

Tại bản Buông-Boan, huyện Ma-ha-xay, chúng tôi gặp được bà Khăm-Ny, bà cung cấp cho đội nguồn tin chính xác: Bên gốc cây săng lẻ cổ thụ có liệt sĩ Việt Nam. Cả đội hăm hở tìm kiếm. Chúng tôi tổ chức đào ngang như cuốn chiếu. Những nhát cuốc, nhát xẻng cứ vập vào đất đá phầm phập… keng keng… Đào mãi, đào mãi như lộn cả một góc núi, chỉ gặp những mảnh bom, những quả bom bi gỉ sét rình rập chờ thời cơ phát nổ. Đội chia thành hai bộ phận, một bộ phận tìm kiếm, một bộ phận làm chiến sĩ công binh xử lý bom mìn… Hai ngày với hàng chục công vẫn trở về tay trắng. Anh đã hóa thân vào cây rừng rồi?!

Chúng tôi lặng lẽ quay ra. Oái oăm thay, xe lại không khởi động được máy. Cái xe vô thức, “căn nhà di động” của chúng tôi chưa muốn đi sao? Suốt một buổi sáng, lái xe và thợ sửa chữa lấm lem dầu mỡ. Chẳng nhẽ ngồi chơi không? Chúng tôi quay lại tiếp tục tìm kiếm. Suốt ngày hôm đó cũng chẳng may mắn gì… Chúng tôi cứ đào, hy vọng dưới lớp đất cứng sẽ gặp lớp đất xốp, dấu hiệu có di hài liệt sĩ, hoặc may mắn tìm được những di vật như cúc áo, bàn chải đánh răng, dép cao su… Những tia nắng ối đỏ cuối ngày đã tắt. Chúng tôi phải dừng tay, đóng lán, nấu cơm… Một đêm lại qua!

Bình minh. Tiếng gà rừng ò ó o vang vọng lôi chúng tôi ra khỏi giấc ngủ nhọc nhằn. Mở mắt đã thấy anh Quý đang đứng trầm tư. Nhìn quanh, anh nói:

- Có còn chỗ nào chưa đào nữa đâu? Chỉ còn con đường lát đá này hay ta đào nốt lên… rồi làm lại cho dân.

Không kịp đánh răng, rửa mặt và ăn sáng, chúng tôi bắt tay vào việc, cạy từng viên đá trên con đường được dân xếp ngăn nắp hàng chục năm nay. Khó khăn lắm mới nạy được từng viên đá. Cũng một lần hú vía, viên đá lăn ra sát chân Thủy, một khoảng cách bằng lưỡi dao lam là cướp đi cả bàn chân. Rồi đến lớp đất cứng dễ đến 70 phân, Thủy phát hiện có lớp đất lạ, theo kinh nghiệm chúng tôi gọi là “đất lộn”. Thủy reo lên:

- Đây rồi, lấy vải, lấy vải mau lên!

Chúng tôi ào đến quanh Thủy, niềm vui rưng rưng. Đất trời, rừng cây lúc đó dường như cũng lặng im. Chúng tôi kính cẩn đón anh lên, tỉ mỉ như công việc của bác sĩ, lấy hết những gì đồng đội để lại trong lòng đất. Đó là một ngày đẹp trời khó quên! Đón anh ra xe, xe nổ máy lao đi trong một niềm vui khôn tả. Nhưng tên Anh? Tên Anh cũng như xương thịt anh đã hòa tan trong đất núi theo năm tháng…

Theo nguồn tin, ở ngọn núi bên bản Ba Làng có các hang ngày xưa bộ đội ta dùng làm bệnh viện. Hơn 30 năm, hang núi đã bị lãng quên. Cả đội chia làm nhiều ca, tìm kiếm trong từng kẽ đá, mò từng vũng nước đọng lòng hang tanh mùi rêu mốc. Cố tìm, cố kiếm dù chỉ một di vật nhỏ nhoi, chỉ thấy những bơm tiêm, dây thông tin, đầu đạn, ống liều. Những giọt mồ hôi, những hơi thở dài đầy nhọc nhằn thổi vào rừng cây… Hơn một tuần làm việc như những nhà khảo cổ mà không tìm được hiện vật gì đáng kể.

Hàng chục ngày đêm, chúng tôi đi mãi, đi mãi. Những khúc cơm vắt trên đường hành quân chặt cứng như gỗ. Những hạt vừng nằm trong muối như vàng trong cát. Có những lúc xe không tránh được cạm bẫy của rừng núi. Gặp con nước lũ khi vượt suối, nước chảy ầm ầm, thực phẩm, quân trang bồng bềnh trôi nổi theo con nước.

- Anh em ơi, đưa liệt sĩ lên bờ trước!

Bộ đội ào xuống quần lộn với ướt lạnh, giá rét, đưa các anh đến chỗ an toàn rồi mới lần theo dòng nước tìm vớt ba lô, lương thực. Đó chỉ là một buổi vượt suối ở bản Pặc Pa Năng. Chúng tôi đặt tên là “Ngày Pặc Pa Năng” nhưng đó cũng là chuyện thường gặp của đội 589. Ba tháng lần theo dấu các anh xưa, đã giúp chúng tôi tìm được 58 đồng đội. Xe hậu cứ lên, chúng tôi tiễn các anh về Tổ quốc đón xuân Bính Tuất, còn chúng tôi ở lại tiếp tục nhiệm vụ của mình. Ba ngày tết qua! Chúng tôi lại lên đường, tiếp tục một hành trình mới. Những tháng cuối mùa khô thật gian lao. Được sự hướng dẫn của nhân dân các bộ tộc Lào, chúng tôi theo dấu các anh. Càng đi, càng vào sâu, đường càng khó đi để đến một ngày chiếc xe Zin khỏe khoắn cũng đành bất lực. 30 năm qua những con đường xưa đã không còn bước chân qua lại, những bánh xe tội nghiệp kia cũng đã hết sức rồi. Chúng tôi dừng lại, đứng sững giữa cái hoang vu. Đột nhiên Đinh Minh Giang, một chiến sĩ, người miền núi, vớ lấy cây rìu leo vút lên cây cổ thụ như một con sóc. Từ thấp thoáng giữa những tán cây, tiếng Giang cười hề hề vọng xuống:

- Mình kiếm được giò phong lan đẹp quá.

- Xuống ngay, cẩn thận kẻo ngã. Việc không lo còn lan với huệ gì?!- Anh Quý gắt.

Giang nhảy xuống, lặng lẽ kết những bông hoa thành một vòng hoa, cẩn thận đặt lên đầu xe rồi quay lại nhìn anh Quý, nói khẽ:

- Anh Quý, anh thắp hương cho các đồng đội của mình đi!

Một bó hương được thắp lên, mùi hương quấn lấy mùi hoa thơm kỳ lạ. Những cánh hoa tươi lung linh như bao ánh mắt nhìn, làn khói hương bay như những đôi tay vươn về phía trước. Đàn ong nào u… u… bay đến…

Đội triển khai phương án hành quân bộ. Lại cơm vắt, ngủ rừng như các anh ngày trước. Ngày hành quân theo dấu bản đồ, sau lưng là ba lô, cuốc xẻng, gạo, muối… không dưới 30kg. Đêm ngủ giữa đại ngàn bao la, trong tiếng gió ào ào, tiếng thú rừng vọng trên vách đá… Dừng chân giữa hai chặng đường hành quân. Một viên vi-ta-min C với đường pha vào chút nước, anh em chuyền tay nhau san sẻ. Uống một ngụm, khà một tiếng, cảm giác mát đến tận tim… Những câu chuyện tiếu lâm lúc chờ cơm làm lính bật cười ha hả vang động cả một khoảng núi rừng.

Tiến quân lên huyện Bua-la-pha của Khăm-muội, quẩn quanh trong vùng “chảo lửa mùa khô” hai tháng ròng, đến ngày Quốc tế phụ nữ, chúng tôi đến bản Phoong-Pình, gặp được các cụ già là những chiến sĩ Pa-thét Lào năm xưa từng chiến đấu cùng bộ đội tình nguyện Việt Nam. Chúng tôi như nắng hạn gặp mưa, vui cuống lên, quên cả đói, cả nắng, không còn mệt nữa. Theo chân các cụ trong bản đến hang Loông. Mấy chục năm trước, nơi đây một trận đánh ác liệt đã diễn ra, bộ đội Việt Nam hy sinh nhiều lắm…

Thứ, một chiến sĩ trẻ vào hang đầu tiên, sau nhát cuốc bổ xuống đã phát hiện di hài liệt sĩ. Run run nâng mảnh di hài của đồng đội trên tay, gọng Thứ tắc nghẽn như cười, như khóc:

- Các anh ơi, đây rồi, tìm thấy rồi!

Đây là ngày thành công nhất sau hai tháng nhọc nhằn, cũng là ngày tìm thấy nhiều đồng đội nhất: 16 đồng chí. Niềm vui ập đến với chúng tôi không gì tả nổi, nhưng sao tôi cứ thấy chua xót trong lòng: “Ngày nào năm xưa các anh cùng ngã xuống, khi ấy các anh bao nhiêu tuổi xuân xanh?… Bao nhiêu câu hỏi cứ nhói trong tim. Nửa tháng trời, chúng tôi tìm đón được 72 đồng đội. Kết thúc chiến dịch, chúng tôi ra về dưới cơn mưa đầu mùa rả rích. Nhìn dải Trường Sơn dưới mưa chiều, tôi thầm hứa: “Mùa khô sang năm chúng tôi lại về đây tìm đón các anh”.

Ghi chép của PHẠM HỮU HIỆP