Cuối năm 1971, Sư đoàn 320 chúng tôi lên đường vào chiến trường Tây Nguyên với quyết tâm “Đi lâu, đi sâu, đi xa, đi đến thắng lợi hoàn toàn”. Sau gần hai tháng vượt Trường Sơn, chúng tôi vào tới điểm tập kết gần khu vực ngã ba biên giới, thuộc tỉnh Kon Tum. Trên đường đi, chúng tôi gặp một đơn vị vận tải, người gùi đạn B40, người gùi đạn cối, có anh cõng cả bao hàng cao ngất ngưởng. Thấy chúng tôi, các anh vội dừng lại bên đường nói cười rối rít: “Hà Tây đây”, “Thái Bình đây”, “Hà Bắc đây”, “Nghệ Tĩnh quê Bác đây”, “Có ai Hải Hưng không?”… Đi qua rồi, chúng tôi còn nghe rõ tiếng nói của một anh giọng đặc sệt Thanh Hóa: “Quả đấm thép đã vô. Nhất định mùa xuân này sẽ mần ăn lớn cho mà coi!”. Nghe vậy, mỗi chúng tôi đều thấy trào lên một niềm tin xen lẫn niềm tự hào, đang gò lưng leo dốc mà cứ thấy nhẹ lâng lâng.

Vượt qua những đỉnh cao chót vót của Trường Sơn, đơn vị tôi (Đại đội 1, Tiểu đoàn 16 súng máy cao xạ 12,7mm) mới đến vị trí đóng quân trong một cánh rừng già dưới chân điểm cao 1700. Ở đây phong cảnh hữu tình, cỏ non xanh, nước suối róc rách, chim ca vượn hót suốt ngày, nhưng sinh hoạt và đời sống thì cái gì cũng thiếu. Mới vào chiến trường mà mỗi chúng tôi mỗi ngày chỉ được cấp 5 lạng gạo, thức ăn thì chủ yếu là cá khô và mắm kem. Tuổi mười tám đôi mươi mà mỗi bữa chỉ được hai lưng bát cơm lại phải đào hầm, vác gỗ, làm lán trại suốt ngày, bụng lúc nào cũng cồn cào, tay chân rã rượi…

Chỉ còn mươi ngày nữa là đến Tết Nguyên đán Nhâm Tý, trong khi các lực lượng vận tải của Mặt trận tấp nập vận chuyển đạn, gạo ra phía trước thì đơn vị tôi vẫn “án binh bất động”. Chúng tôi đang nóng lòng chờ đợi thì Đại đội trưởng Đỗ Văn Bảy và Chính trị viên Nguyễn Văn Nấp đi họp về. Đơn vị được tập trung quán triệt nhiệm vụ. Qua phổ biến của đại đội, chúng tôi đã rõ: Mùa xuân này, trên quyết định mở Cuộc tiến công chiến lược trên toàn Miền. Và Tây Nguyên được xác định là một hướng tiến. Tuy có nhiều khó khăn nhưng ra trận trong đội hình lớn của Mặt trận Tây Nguyên với khí thế quyết tâm “Nhâm Tý ra quân rầm rập tiến/Quét sạch đồn thù giải phóng dân”.

Chiều ngày 12-2 (tức 24 Tết), đơn vị làm lễ xuất quân với nhiệm vụ bước đầu là đánh máy bay bảo vệ cụm kho A2 trên đường 70B. Do phát hiện được ta ráo riết chuẩn bị chiến trường và cơ động lực lượng, địch đã tăng cường hoạt động thăm dò, cho phi pháo đánh phá kho tàng và các tuyến đường vận tải của ta. Sau một đêm tập trung xây dựng trận địa, mặt trời vừa nhô lên khỏi dãy núi xa xa, một chiếc trinh sát OV10 đã vè vè bay tới. Sáng ngày thứ 4, khoảng 9 giờ một chiếc L19 bay đến lượn mấy vòng trên cao rồi thu hẹp dần vòng lượn nhòm ngó xuống cánh rừng bên trái sát khu kho…

Sang ngày 18 cũng là 30 Tết, có lẽ do biết có lực lượng phòng không của ta ở đây và cũng có thể do ta công bố lệnh ngừng bắn trong ba ngày Tết mà địch không có hoạt động gì đáng kể. Chúng tôi được thay phiên tắm giặt. Cũng chiều đó, Đại đội tổ chức ăn Tết. Trong điều kiện khó khăn là vậy mà trên vẫn lo cho mỗi chúng tôi 2 lạng thịt móc hàm và một lạng đỗ xanh. Tôi và Thắng là hai người cuối cùng được khẩu đội cho về tắm giặt và lấy cơm luôn cho khẩu đội. Trong khoảnh khắc bình yên hiếm hoi giữa chiến trường, tự nhiên tôi thấy nhớ nhà da diết. Vào ngày này năm trước, tôi đang ở nhà ăn Tết với bố mẹ và các em. Biết tôi sau Tết sẽ vào chiến trường, bố tôi đã làm thêm những món ăn ngon như giò lụa, giò xào, nem, mọc… để cả nhà liên hoan. Những hương vị của các món ăn sang trọng ấy lúc này lại ùa về ngào ngạt trong trí óc tôi.

Khoảng 5 giờ chiều, tôi và Thắng cùng các đồng chí ở khẩu đội 4 và 6 nhận phần cơm đã được nuôi quân chuẩn bị sẵn mang lên trận địa. Bữa cơm Tết duy nhất của chúng tôi có thịt kho, chả đậu xanh, hoa chuối rừng xào và canh xương. Lên đến triền đồi thì trời đã chạng vạng, chúng tôi đi gần bên nhau, vừa đi vừa tưởng tượng niềm vui của anh em khi được thưởng thức bữa cơm thịnh soạn này. Nhưng trời đất bỗng rung chuyển ầm ầm, gió bụi cùng khói bom đen đặc thổi thông thốc. Chỉ trong nháy mắt, tôi và Thắng đã nằm lọt giữa hai cây gỗ đổ bên đường. Khi dứt tiếng nổ, chúng tôi bò dậy thì hai chậu cơm canh và thức ăn đã bay đâu mất. Nhìn xuống, chúng tôi thấy cả một vạt rừng rộng từ mé kho bên kia đồi đến dọc bờ suối bên này, nơi đặt bếp nuôi quân của các trung đội đã bị bom B52 san bằng. Chúng tôi vội chạy về trận địa. Anh Lan khẩu đội trưởng và mọi người thấy chúng tôi về mừng rỡ nói: “Các cậu còn sống là quí rồi!”. Một lúc sau, Chính trị viên Nguyễn Văn Nấp về nói: “Rất may, không ai hy sinh. Nhưng toàn bộ gạo, thực phẩm còn lại của các bếp đều bị bom vùi lấp”. Anh quay sang Trung đội trưởng: “Ngay bây giờ Trung đội tổ chức cho anh em di chuyển bếp nuôi quân và đi lấy sắn về ăn”. Thế là đêm giao thừa và cả ngày mồng 1 Tết, chúng tôi phải ăn sắn trừ bữa. Mãi đến tối ngày hôm sau, bộ phận về tiểu đoàn lấy gạo mới về…

Đã hơn 35 năm trôi qua, nhưng những ngày Tết Nhâm Tý 1972 - Tết đầu tiên của tôi trong đời bộ đội và cũng là Tết đầu ở chiến trường Tây Nguyên vẫn luôn hiển hiện trong trí óc tôi…

HÙNG TẤN