 |
|
PGS-TS Vương Hữu Tấn |
PGS-TS Vương Hữu Tấn từng tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội, công tác ở Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, nghiên cứu sinh ở Liên Xô (1985-1989). Từ 1998 đến nay, ông là Phó viện trưởng, rồi Viện trưởng Viện năng lượng nguyên tử Việt Nam. Nhân dịp vào Đà Lạt chủ trì hội thảo khoa học “tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ hạt nhân phục vụ phát triển kinh tế-xã hội”, ông đã trả lời phỏng vấn của PV báo Quân đội nhân dân về việc xây dựng và phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam.
Ứng dụng năng lượng nguyên tử vì hòa bình
PV: Thưa PGS-TS Vương Hữu Tấn, chúng tôi nghe tiếng Viện năng lượng nguyên tử (NLNT) Việt Nam đã lâu, nhưng việc ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) hạt nhân vào đời sống ở Việt Nam phải chăng mới còn ở lý thuyết?
PGS-TS Vương Hữu Tấn: KHCN hạt nhân có 2 loại ứng dụng trong lĩnh vực năng lượng và phi năng lượng. Ở Việt Nam, KHCN hạt nhân đã được ứng dụng trong các lĩnh vực y tế, nông nghiệp, công nghiệp, địa chất, khoáng sản, khí tượng, thủy văn, giao thông, xây dựng, dầu khí…; trong đó sớm nhất là trong ngành y tế (từ năm 1923). Hiện nay, trong ngành y tế, cả 3 lĩnh vực là X-quang, y học hạt nhân và xạ trị đều được phát triển ở Việt Nam. Trên lĩnh vực nông nghiệp, một số giống cây trồng có chất lượng đã được tạo ra bằng công nghệ hạt nhân như các giống lúa, ngô, đậu tương… trong đó có những giống nổi tiếng như VNĐ-95-20. KHCN hạt nhân đã được ứng dụng trong thanh trùng hải sản xuất khẩu, góp phần vào thành công của ngành xuất khẩu thủy sản trong thời gian qua. Ngành dầu khí đã ứng dụng thành công KHCN hạt nhân trong nâng cao hiệu suất thu hồi dầu và đánh giá dầu dư bão hòa trong các giếng khai thác. Đây là một trong 10 thành tựu nổi bật năm 2005 về KHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ.
- Điện hạt nhân tạo ra từ phản ứng phân hạch đã được ứng dụng trên thế giới hơn 50 năm nay, tuy nhiên ở Việt Nam vẫn là một lĩnh vực mới mẻ…
- Điện hạt nhân là một dạng của nhiệt điện, tức là dùng nhiệt đun sôi nước tạo ra hơi nước để làm quay tuốc-bin phát ra điện. Trong các nhà máy nhiệt điện chạy than, dầu và khí thì người ta tạo ra nhiệt bằng cách đốt than, dầu hay khí. Còn trong nhà máy điện hạt nhân thì nhiệt dùng để đun sôi nước được tạo ra từ phản ứng phân hạch hạt nhân. Năng lượng sinh ra từ việc đốt than, dầu hay khí là năng lượng của phản ứng hóa học, nó nhỏ hơn hàng triệu lần so với năng lượng của phản ứng phân hạch hạt nhân. Vì vậy, một nhà máy điện hạt nhân công suất 1.000MW mỗi năm tiêu thụ khoảng 30 tấn nhiên liệu uran, trong khi các nhà máy nhiệt điện than phải cần 2,6 triệu tấn than hay nhà máy nhiệt điện dầu cần 2,2 triệu tấn dầu.
|
Việt Nam có đủ điều kiện xây dựng nhà máy điện hạt nhân |
PV: Ông có thể cho bạn đọc báo Quân đội nhân dân biết những nội dung chính trong “Chiến lược ứng dụng NLNT vì mục đích hòa bình của Việt Nam”?
PGS-TS Vương Hữu Tấn: Ngày 3-1-2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 01/2006/QĐ-TTg ban hành “Chiến lược ứng dụng NLNT vì mục đích hòa bình”. Chiến lược đã công bố các chính sách lớn của quốc gia về ứng dụng NLNT, đặc biệt là chính sách về ứng dụng NLNT vì mục đích hòa bình nhằm tranh thủ sự hợp tác và giúp đỡ của quốc tế để phát triển ngành NLNT còn non trẻ của Việt Nam. Chiến lược đã xác định 3 mục tiêu chủ yếu về ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ, về phát triển điện hạt nhân và về xây dựng tiềm lực cơ sở hạ tầng kỹ thuật, luật pháp và nguồn nhân lực KHCN hạt nhân đến năm 2020. Ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ phải mang lại hiệu quả cao cho phát triển kinh tế-xã hội. Về điện hạt nhân phải bảo đảm xây dựng và đưa vào vận hành an toàn hiệu quả nhà máy điện hạt nhân đầu tiên, từng bước nâng tỷ lệ điện hạt nhân đạt mức hợp lý trong tổng sản lượng điện năng quốc gia. Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, luật pháp và nguồn nhân lực phải đủ để đáp ứng yêu cầu phát triển ngành NLNT và đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.
 |
|
Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. |
- Thưa ông, Việt Nam đã có dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam chưa? Khi nào xây dựng và đến năm nào hoàn thành và phát điện?
PGS-TS Vương Hữu Tấn: Tháng 8-2005, Bộ Công nghiệp đã trình Chính phủ báo cáo tiền khả thi và báo cáo nghiên cứu làm rõ 7 vấn đề quan trọng trong phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam. Sau khi được phê duyệt, sẽ chuyển sang giai đoạn làm báo cáo khả thi, lựa chọn địa điểm, quy mô, loại lò, thiết kế kỹ thuật, đàm phán, ký kết hợp đồng, xây dựng, lắp đặt, khởi động, nghiệm thu và vận hành thương mại. Theo kết quả nghiên cứu đã nêu trong báo cáo tiền khả thi, dự kiến việc khởi công xây dựng sẽ được tiến hành khoảng năm 2012-2013 và nhà máy sẽ đi vào vận hành thương mại khoảng năm 2018-2020.
- Vậy, nhà máy điện hạt nhân dự kiến sẽ xây dựng ở đâu?
- So với nhiều nước, chúng ta có những ưu thế về khả năng và những địa điểm đủ điều kiện xây dựng nhà máy dựa trên những tiêu chí về địa chất, địa hình, khí tượng, thủy văn, khả năng cung cấp nước ngọt và nước làm mát cho nhà máy, khả năng vận chuyển các thiết bị siêu trường, siêu trọng, gần nguồn thụ tải… Trong nghiên cứu tổng quan phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam giai đoạn 1996 – 2005, các cơ quan chuyên môn đã khảo sát 20 địa điểm từ Bắc vào Nam và đã chọn ra 6 địa điểm. Cuối cùng, địa phận thôn Vĩnh Trường, xã Phước Dinh (Ninh Phước, Ninh Thuận) được chọn để xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên. Địa điểm này có địa hình thuận lợi, đủ diện tích xây dựng nhà máy với 4 tổ máy công suất mỗi tổ từ 1.000MW trở lên.
- Nhà máy điện hạt nhân đi vào hoạt động sẽ cung cấp bao nhiêu phần trăm điện năng cho đất nước?
- Theo kết quả nghiên cứu, trên cơ sở phương án tổng hòa cân đối các nguồn đáp ứng, các cơ quan chuyên môn đã đề xuất phương án phát triển từ 2.000 MW đến 4.000 MW điện hạt nhân vào năm 2020. Sau đó sẽ phát triển tiếp các nhà máy điện hạt nhân khác với mục tiêu đến 2025 điện hạt nhân chiếm 11% và đến 2040, 2050 chiếm 25% - 30% tổng sản lượng điện. Đây sẽ là một giải pháp để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đủ bảo đảm nhu cầu điện năng cho sản xuất và tiêu dùng.
|
Sẽ không có Tréc-nô-bưn thứ hai |
PV: Nói đến năng lượng hạt nhân, người dân mà nhất là những người sống quanh khu vực xây dựng nhà máy sẽ rất quan tâm đến vấn đề an toàn phóng xạ. Vấn đề này đã được đặt ra như thế nào?
PGS-TS Vương Hữu Tấn: Đúng như vậy! Đây là vấn đề gây ra những lo ngại sâu sắc cho cộng đồng dân cư, đặc biệt là sau tai nạn hạt nhân Tréc-nô-bưn và một số sự cố hạt nhân xảy ra trên thế giới. Các sự cố hoặc tai nạn hạt nhân xảy ra là do các nguyên nhân: Kỹ thuật, luật lệ và con người. Tai nạn Tréc-nô-bưn là do những sai sót ngay trong bản thân thiết kế và sự vi phạm quy chế vận hành của con người. Thiết kế cho Tréc-nô-bưn không có vỏ bọc bê tông cốt thép, nên khi sự cố xảy ra, một lượng lớn chất phóng xạ thoát ra môi trường gây nhiễm bẩn phóng xạ trên một vùng rộng lớn. Hiện nay, các loại lò thương mại trên thế giới đều có vỏ bọc bê tông cốt thép, nếu sự cố xảy ra, các chất phóng xạ sẽ bị giữ lại trong vỏ bọc này, không gây hậu quả cho con người và môi trường như tai nạn Tréc-nô-bưn. Hơn thế nữa, trong thiết kế các lò phản ứng hiện nay đã chứa đựng các yếu tố bảo đảm an toàn nội tại cũng như giảm những hậu quả của các sự cố nếu xảy ra. Theo đánh giá của các chuyên gia kỹ thuật, các lò phản ứng thương mại hiện nay đã đạt đến độ an toàn rất cao và công nghệ lò phản ứng càng ngày càng được cải tiến, bảo đảm an toàn hơn.
- Vậy, liệu có còn tình trạng như Tréc-nô-bưn?
- Tôi tin là ở Việt Nam sẽ không xảy ra sự cố nào như vậy. Xét cho cùng thì các tai nạn xảy ra đều chủ yếu do lỗi con người. Hoạt động của lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt trong 20 năm qua đã khẳng định trình độ của đội ngũ cán bộ Việt Nam trong quản lý, vận hành và bảo dưỡng lò phản ứng hạt nhân – một mô hình thu nhỏ của nhà máy điện hạt nhân.
- Để xây dựng và điều hành nhà máy điện hạt nhân, cần có một đội ngũ cán bộ vững vàng về chuyên môn. Viện có kế hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ này như thế nào?
- Nguồn nhân lực về hạt nhân hiện nay của Việt Nam chủ yếu đang hoạt động trong Viện NLNT. Viện đã thực hiện gửi đào tạo qua nhiều kênh, như: Thông qua Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế; hợp tác song phương với Nhật Bản, Ấn Độ, Pháp, Hàn Quốc, Ác-hen-ti-na… Ngoài ra, Viện cũng đã mở các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ trong ngành và một số cán bộ ngành điện lực để tiếp tục cho đi đào tạo ở nước ngoài. Mục tiêu là chúng ta phải có đội ngũ cán bộ đủ năng lực để tiếp thu, vận hành và kiểm tra an toàn nhà máy điện hạt nhân sau khi được xây dựng xong.
- Vấn đề người dân và doanh nghiệp quan tâm nhất có lẽ là giá cả. Liệu điện hạt nhân có rẻ hơn không?
- Tuy giá thành xây dựng cao, nhưng nhà máy điện hạt nhân lại có chi phí nhiên liệu, chi phí vận hành và bảo dưỡng thấp do có số giờ vận hành cao (khoảng 7.000 giờ/năm), nên sản lượng điện tạo ra nhiều hơn so với các nhà máy điện khác cùng công suất. Vì vậy, giá thành điện hạt nhân chắc chắn có thể cạnh tranh tốt với các dạng điện năng khác.
- Trên cương vị là người đứng đầu ngành NLNT Việt Nam, ông có kiến nghị gì với Đảng và Nhà nước để Dự án sớm trở thành hiện thực?
- Chúng tôi đề nghị Nhà nước sớm cho phép thành lập Công ty điện hạt nhân để tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ trong Dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam; Xây dựng Viện NLNT Việt Nam thành cơ quan nghiên cứu triển khai và hỗ trợ kỹ thuật hiện đại trong lĩnh vực NLNT ngang tầm các nước trong khu vực; Thành lập Ban chỉ đạo quốc gia về đào tạo phát triển nguồn nhân lực thuộc Ủy ban NLNT để chỉ đạo ngay kế hoạch đào tạo nhân lực cho chương trình điện hạt nhân; Quan tâm đầu tư cho phát triển ngành NLNT thực sự là một ngành kinh tế- kỹ thuật trọng điểm quốc gia.
- Xin cảm ơn Phó giáo sư!
Chí Long - Nam Viên (thực hiện)