Ông Đỗ Tùng đóng phim “Đêm hội Long Trì”.

Cách đây hơn 30 năm, Đoàn chèo Tổng cục Hậu cần được giao dựng vở về Nguyễn Viết Xuân với câu nói bất hủ “Nhằm thẳng quân thù, bắn”. Dựng lên, dựng xuống mà vẫn chưa đâu vào đâu vì tiết tấu chèo vốn chậm, rất khó tái hiện không khí pháo cao xạ ta bắn rơi máy bay Mỹ. Đúng lúc ấy, nghệ sĩ Đỗ Tùng xuất hiện... Vở chèo thành công, một giáo sư âm nhạc Ba Lan sang Việt Nam sau khi xem vở chèo đã phải thốt lên: Thật tuyệt vời, tôi chưa bao giờ thấy ai chỉ dùng bộ gõ mà miêu tả cả một trận chiến đấu. Tôi muốn biết Đỗ Tùng là ai?

Từ... sư bác trở thành chiến sĩ

Câu chuyện về vở kịch nọ thu hút tôi đi tìm ông Đỗ Tùng đúng dịp cả nước đang sôi nổi kỷ niệm 35 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không. Cứ tưởng Đỗ Tùng là ai, hóa ra ông là Trung tá, nguyên Đoàn phó Đoàn chèo Tổng cục Hậu cần đã nghỉ hưu. Nhắc lại vở Nguyễn Viết Xuân, ông hào hứng biểu diễn cho chúng tôi cái đoạn ông đã “phù phép” bài chèo cổ Tai nghe giặc nổi bên đông thành một trận đánh oanh liệt. Những lời hát sôi nổi xen lẫn tiếng trống trận tùng, cắc dồn dập đã tạo nên không khí rất ác liệt của một trận đánh. Cái lưng hơi gù, cái đầu hơi chúc xuống, đôi tay dài vung vẩy... Ông hài hước tự bạch: “Tớ có dáng điệu đặc biệt thế này cũng vì từ thuở bé tí đã được bố cho cắp tráp theo hầu ngồi xếp vòng tròn đánh trống!”. Con nhà tông, quê ở phường chèo làng Phú Nhi, xã Viên Sơn (Ba Vì – Hà Tây), 4 tuổi Đỗ Tùng đã biết gõ mõ, 6 tuổi biết gõ trống, 7 tuổi biết lắc lư hát các làn điệu chèo… Nào ngờ, 8 tuổi thì người bố bạo bệnh qua đời. Nhà nghèo, đói rách, mẹ phải gửi Tùng vào làm chú tiểu ở chùa Tổng. Vốn thông minh, ham học, giỏi chữ Hán, mới 16 tuổi, Đỗ Tùng đã trở thành sư bác. Những tưởng, nghiệp cầm ca cũng lặng lẽ trôi qua cùng tháng năm âm thầm nơi cửa Phật. …

Mùa đông năm 1946, ngôi chùa yên tĩnh bỗng xuất hiện những người lính Trung đoàn 66 đến xin đóng quân. Người lính mà sư bác Đỗ Tùng cảm mến nhất là đại đội trưởng Tống. Đại đội trưởng cũng rất quý nhà sư trẻ uyên bác và yêu âm nhạc. Có lần, anh đề nghị nhà sư viết giùm một bài hát cho đội văn nghệ. Chỉ một đêm, bài chèo “Đạo làm người” ra mắt! Càng sống với anh em bộ đội, nhà sư trẻ càng nhận ra sứ mệnh của trai thời loạn. Một ngày nọ, ông ngập ngừng đặt lên bàn đại đội trưởng… lá đơn xin tòng quân.

Tuy nhiên, sư bác mới có 16 tuổi, chưa đủ tuổi nhập ngũ. Cảm mến chí khí nhà sư, Trung đoàn trưởng Phùng Thế Tài đồng ý nhận nhưng tạm thời gửi anh sang “giúp việc” cho trung đội cảnh vệ. Tròn một năm sau, anh mới đủ tuổi và chính thức được biên chế về Tiểu đoàn 108, Trung đoàn 148.

Chiếu chèo thời trận mạc

Vào bộ đội, nhà sư Đỗ Tùng bỗng “lột xác” thành người lính quả cảm. Có lần, đuổi giặc để cướp súng lục, băng qua bãi sình lầy, tụt cả quần đùi, Đỗ Tùng vẫn “cởi truồng truy kích địch” suốt hơn 3 cây số. Biết chuyện, đồng chí chính ủy trung đoàn đã thưởng cho anh một khẩu súng!

Nổi tiếng hát hay, đàn giỏi nên năm 1951, khi đội Tuyên văn trung đoàn được thành lập thì ngay lập tức, anh được trên điều động bổ sung vào “đội quân đặc biệt” này. Nhiều tháng trời, đội văn nghệ trèo đèo, lội suối, hát phục vụ bộ đội và đồng bào, đến đâu cũng được hoan nghênh nhiệt liệt. Riêng Đỗ Tùng được giao phụ trách một tổ vừa sáng tác, biểu diễn, vừa làm công tác dân vận ở vùng Lào Cai.

Một ngày đầu hè năm 1952, Đỗ Tùng bị bệnh đang nằm bệnh xá thì thấy lòng như lửa đốt. Hôm sau, anh xin phép trở về đơn vị thì bàng hoàng nhận hung tin: đêm qua, toán phỉ hơn 100 tên đã ập đến cướp bóc và đánh úp đội văn công của trung đoàn, cả 11 nghệ sĩ - chiến sĩ đã bị chúng sát hại. Đau đớn. Bàng hoàng. Rụng rời chân tay. Mặc cho phỉ trong rừng vẫn bắn ra, Đỗ Tùng nghiến răng thu xác đồng đội, chôn vội vào hai hố sâu rồi rút lui. Đội văn nghệ 12 người, nay chỉ còn lại mình anh với nỗi đau vô hạn…

Đúng là “tiếng hát ngân lên bỗng tắt nửa chừng”, đội tuyên văn hy sinh cả, Đỗ Tùng cũng đành gác tiếng đàn, tiếng hát, tiếp tục cầm súng. Anh được giao làm trung đội trưởng phân đội 99, quản lý tù binh. Năm 1957, niềm mơ ước theo điệu chèo tiếng hát mới được nhen nhóm trở lại trong lòng người chiến binh khi anh được trên điều động về Tổng cục Chính trị, làm đội phó, rồi đội trưởng của đoàn nghệ thuật. Năm 1959, khi “đoàn chèo Trung ương 2” được thành lập, Đỗ Tùng được giao chuyển ra làm đoàn trưởng kiêm bí thư chi bộ. Dưới sự lãnh đạo của ông, Đoàn chèo Trung ương 2 tuy thuộc Bộ Văn hóa nhưng vẫn đậm “chất lính”. Làm lãnh đạo nhưng ông vẫn kiêm đạo diễn, kiêm luôn diễn viên với các vở chèo nổi tiếng của Tào Mạt như: Cuộc đời theo Đảng, Ai mua hành tôi, Mối tình Điện Biên… Những năm ấy, Đỗ Tùng được khán giả biết đến như một gương mặt diễn viên chèo chuyên đóng vai người lính. Gương mặt phong trần, hồn hậu của ông có gì đó lột tả rất đạt hình ảnh những người lính trung kiên. Ông được chọn đi diễn ở nhiều nước như Trung Quốc, Mông Cổ, Liên Xô…

Đóng góp cho một “thương hiệu”

Giờ đây Đoàn chèo Tổng cục Hậu cần đã trở thành một thương hiệu và Đỗ Tùng là một trong những người “khai thiên lập địa” đoàn. Năm 1966, ông chuyển sang đoàn nghệ thuật Tổng cục Hậu cần. Khi ấy, Đoàn chưa “chuyên về chèo” như hiện nay nên Đỗ Tùng dành nhiều công sức xây dựng tổ chèo thuộc đoàn. Tổ chèo ban đầu chỉ có 3 người nên ý tưởng thì nhiều mà không làm được cái gì “ra tấm ra món”. Đỗ Tùng lặn lội theo dõi phong trào hát chèo quần chúng, phát hiện ở tỉnh đội Hưng Yên có rất nhiều “cây văn nghệ chèo”. Ông đề xuất với Tổng cục xin tỉnh đội Hưng Yên liền lúc 10 người làm hạt giống. Sau này, họ đều trở thành những diễn viên nòng cốt của đoàn chèo Tổng cục Hậu cần.

Năm 1990, nghệ sĩ Đỗ Tùng về nghỉ hưu với quân hàm Trung tá nhưng ông vẫn miệt mài soạn nhạc, viết sách về chèo, làm giảng viên cho các đoàn nghệ thuật của Tổng cục Hậu cần, Quân chủng Phòng không – không quân. Từ năm 2000 đến nay, ông còn được Nhà hát chèo Việt Nam mời ra làm chuyên gia, hướng dẫn cho lớp diễn viên trẻ… Thảo nào, khu phố ông ở chật chội, náo nhiệt là thế nhưng tìm ông rất dễ. Hỏi ông Tùng chèo thì người già, trẻ con ai cũng biết bởi khu phố ấy có một ngôi nhà đặc biệt, ngôi nhà ấy không ngày nào vắng tiếng trống, tiếng nhị và tiếng hát của người nghệ sĩ áo lính ở tuổi cổ lai hy….

Bài và ảnh: Hà Quang Minh