Chị Nguyễn Thị Thi, quê Hưng Yên, 43 tuổi làm nghề gánh thuê ở chợ Long Biên. Ảnh: Hải Đăng

Hiện nay, trong các khu chợ lớn ở Hà Nội, hình ảnh những người lao động nữ với quang gánh trên vai, rong ruổi gánh thuê từ lâu đã không còn lạ lẫm. Từ các vùng nông thôn lân cận, bước chân ra đi mong gánh vác bớt một phần kinh tế gia đình, họ để lại sau lưng đứa con thơ nửa đêm khóc đòi hơi mẹ, người mẹ già ốm đau không ai chăm sóc, món nợ chất chồng. Mỗi người một số phận...

“Chém cha cái kiếp...”

Chị tên là Lê Thị Mai, quê ở Duy Tiên, Hà Nam. Khoảng chừng từ 30 đến 35 tuổi, mà kiếp truân chuyên của một đời con gái hằn rõ trên nét mặt khiến chị già hơn tuổi. Về làm dâu nhà người, mấy năm ròng chưa sinh nổi một mụn con, chồng chị, kẻ gán cho chị cái tội danh hiếm muộn đã đâm ra chán đời mà sống bất cần, buông thả. Khi chị mang được giọt máu của chồng vào trong lòng mình cũng vừa hay cái thứ chất độc chết người-nàng tiên nâu-đã ngấm vào từng tế bào chồng chị. Nghiện ngập. Cái nghèo đã đeo bám bấy lâu càng khó gỡ.

Chị thở dài, nén lòng: “Tôi ra đây được mấy năm rồi, cũng chỉ vì miếng cơm manh áo chứ có ai muốn làm cái nghề thuê mướn này đâu! Cô hỏi chồng tôi làm nghề gì ư? Anh ấy giờ “đi Tây Trúc thỉnh kinh” rồi, là chết đó, hút hít cho lắm rồi cái bệnh nó chạy vào gan vào phổi, không có cách chữa… thì chết”. Cái đau hiện rõ trên khuôn mặt chị. “Đứa con lên 6 thì anh ấy mất, nhà cửa đất đai chẳng để lại gì, đành gửi cháu sang bên bác, cũng may còn có bên ngoại mà nương nhờ chứ bên nội cũng nghèo rớt mồng tơi, đỡ đần gì mình được…”.

Ra Hà Nội, nhập vào đội quân gánh thuê mỗi ngày chị kiếm khoảng hơn 100 nghìn đồng, trừ chi phí ăn uống, tiền nhà trọ, tiền điện nước, “ngày nhiều bù ngày ít” mỗi tháng chị cũng dành dụm được gần một triệu đồng để gửi về cho đứa con đang học lớp hai. Tuy là vất vả nhưng nó vẫn hơn hẳn cái nghề chân lấm tay bùn, mà theo chị: “cứ mùa xong là trong nhà không còn một hạt thóc, nào tiền phân, tiền giống…”.

Cùng làm nghề gánh thuê với chị, Nguyễn Thị Linh (Hưng Yên) lại có một hoàn cảnh éo le khác. Người con gái có dáng hình mảnh khảnh, giọng nói yếu ớt cũng chỉ vì cái nghèo, cái đói mà phải xa gia đình ra Hà Nội kiếm sống. Cô sinh ra trong một gia đình đông anh em, cha mất sớm, mình mẹ tần tảo. Cái sức của một người đàn bà chân yếu tay mềm không lo nổi cho bảy đứa con ăn học.

Lần lượt, hết đứa lớn đến đứa bé, chưa học xong cấp một, cấp hai đã lũ lượt bỏ học ra thành thị kiếm sống. Chúng tôi hỏi Linh đã học hết lớp mấy, Linh thủ thỉ: “lớp ba”. Không biết cái chữ Linh học được có rơi rớt theo từng bước chân nhỏ bé?

Bạc bẽo đời gánh thuê

Khắp các ngõ ngách ở những khu chợ lớn, không nơi nào bước chân âm thầm của những người nữ gánh thuê chưa đặt tới. Thơm, một người gánh thuê quê ở Hưng Yên nói: “Chúng tôi phải thuộc nhiều đường để khi có người thuê thì gánh luôn. Người nào tìm được mối quen, buổi sáng cũng kiếm cỡ “4 đến 5 cheng” (4 đến 5 chục nghìn), đấy như người đàn bà kia (chị chỉ tay về phía người đàn bà có nước da ngăm ngăm, vẻ mặt lanh lợi) chị ta làm ở đây lâu năm các chủ hàng quen mặt, chứ như tụi tôi, nhiều nhất cũng chỉ 2 cheng thôi”.

Để kiếm được 100 nghìn đồng mỗi ngày các chị phải dậy từ lúc hai, ba giờ sáng. Đầu tiên sang khu chợ Long Biên gánh hoa quả từ các xe tải đến các sạp hàng, ai nhanh nhẹn cũng được tầm 4 đến 5 chục. Độ 8, 9 giờ quay lại chợ Đồng Xuân kiếm thêm chút đỉnh. Buổi chiều, 6 giờ chợ đóng cửa, bãi Phúc Tân là bến đỗ của các chị sau một ngày lao động mệt nhọc.

“Một tháng chúng tôi phải nộp hơn trăm nghìn tiền trọ, ngủ qua đêm thì bốn nghìn một ngày, mỗi người một manh chiếu ngủ dưới sàn chứ có giường giếc gì đâu. Phải hôm trời nóng nực, sáu, bảy người một phòng, nghĩ đến đã muốn ngột thở”, chị Hồng (Bình Kiều, Châu Giang, Hưng Yên) tâm sự.

Vất vả là thế nhưng không ít những người phụ nữ từ các vùng nông thôn như: Nam Định, Thanh Hóa, Hà Nam, Hưng Yên… vẫn đổ xô ra Hà Nội kiếm sống. “Làm nghề nông sáu tháng mới được thu hoạch, mà chỉ bận mấy ngày mùa, còn thời gian khác có ở nhà cũng đến… chơi. Mỗi sào lúa cấy chỉ đạt tầm 1 đến 2 tạ thóc, trừ chi phí đầu tư, tính ra còn lại chẳng là bao. Tranh thủ mấy tháng rảnh rỗi tụi tôi đi kiếm việc làm thêm, đến ngày mùa lại về, tuy khổ cực nhưng còn có đồng ra đồng vào”.

Nhìn người phụ nữ đã luống tuổi, gầy còm, còng lưng với bao hàng mà thấy lòng xa xót. Tôi hỏi giá của mỗi gánh hàng bao nhiêu, chị Lâm cười: “Còn tùy thuộc vào quãng đường dài, ngắn, hàng nặng hay nhẹ, cứ như bao vải kia vác từ tầng ba xuống cũng phải… 5 nghìn, còn như bao mộc nhĩ này nhiều nhưng nhẹ, chỉ độ 2 nghìn thôi”. Từng đồng tiền nhàu nhĩ, thấm đẫm mồ hôi, được chị vuốt lại phẳng phiu, cẩn thận. Chị vui vẻ: “Vất vả nhưng còn có việc để làm, nhiều đợt ốm kiếm cả tháng không bõ tiền chi thuốc men, đi bệnh viện”.

Cũng là kiếm sống bằng chính sức lao động của mình, tuy nhiên, nhiều người vẫn nhìn những người phụ nữ làm công việc gánh thuê ở các đô thị bằng ánh mắt không mấy thiện cảm. Còn họ, những người gánh thuê cứ âm thầm giấu đi nỗi buồn, số phận của mình trong những gánh hàng trĩu nặng.

Hằng Hà