 |
| Ông Nguyễn Văn Dương đang nhớ lại ký ức thời đánh giặc. |
Lần theo câu chuyện đi tìm mộ liệt sĩ Hoàng Quang Vinh ở Trường Sơn của ông Giám đốc Trung tâm du lịch suối khoáng nóng Tháp Bà-Nha Trang, tôi tìm về làng Phượng Lịch, xã Diễn Hoa, huyện Diễn Châu (Nghệ An) gặp thương binh Nguyễn Dương. Ông Dương là đồng đội cũ của liệt sĩ Hoàng Quang Vinh và chính là chứng nhân về hành trình của chiếc còi đồng cùng với chủ nhân của nó.
Quê hai chiến sĩ cùng huyện Diễn Châu nhưng ở hai xã cách nhau hơn chục cây số. Họ cùng nhập ngũ một ngày (11-4-1968), rồi cùng vào chiến trường một đợt và được biên chế cùng một khẩu đội súng cối 82mm thuộc đại đội hỏa lực của Trung đoàn Triệu Hải anh hùng. Nguyễn Dương là pháo thủ số 1, Hoàng Quang Vinh là pháo thủ số 2. Họ cùng dự đủ 6 trận đánh trong đội hình của Trung đoàn từ đầu chiến dịch cho đến lúc “lìa” nhau-không ai ngờ ngày 29 tháng 11 năm 1968 là ngày “định mệnh” của đôi bạn pháo thủ đồng hương, đó là ngày diễn ra trận chiến đấu không cân sức giữa đại đội súng cối của họ với tiểu đoàn lính “Trâu điên” Mỹ tại Cam Lộ (Quảng Trị).
Ông Dương nhớ lại: “Trận đánh ấy không khác chi “trứng chọi đá” vì đơn vị chúng tôi chỉ còn hơn hai chục tay súng chọi với cả tiểu đoàn Mỹ được chi viện hỏa lực tối đa. Ngay đợt phản kích đầu tiên, đại đội trưởng đã hy sinh, những chiến sĩ còn lại cầm cự chờ trời tối để thoát khỏi vòng vây của địch. Nhưng trước lúc trời tối thì Vinh cũng bị trọng thương và tắt thở khi trận đánh tạm thời lắng xuống. Trước đó, biết mình không thể qua khỏi, Vinh nắm chặt lấy tay tôi đặt lên ngực áo nơi anh vẫn cất giữ chiếc còi đồng mang theo từ ngày nhập ngũ. Tôi linh cảm Vinh đang muốn nói điều gì đó và bất giác tôi nhớ lại đã có lần Vinh nói với tôi như đùa: “Dương này, khi mình có mệnh hệ chi, cậu nhớ để chiếc còi đồng này đi theo mình nhé!”. Tôi còn nhớ đã có lần Vinh kể rằng chiếc còi đồng ấy có từ thời anh làm liên đội trưởng thiếu niên. Đến khi làm bí thư đoàn xã, chiếc còi đồng lại được Vinh dùng làm trọng tài cho các trận đấu bóng chuyền giữa các chi đoàn. Ngày đơn vị đang huấn luyện ngoài Bắc, những trận đấu bóng chuyền của chúng tôi cũng không bao giờ vắng tiếng còi của Vinh… Tôi đã khóc trong lúc dùng miếng vải nhựa gói chiếc còi đồng bỏ vào ngực áo của người đồng đội. Chôn cất Vinh và những anh em đã hy sinh xong, chúng tôi lợi dụng địa hình và đêm tối rút khỏi vòng vây của địch nhưng không may lại rơi vào ổ phục kích của tụi thám báo Mỹ. Tôi bị thương gãy xương bả vai nhưng vẫn cố ôm chiếc nòng súng cối bám theo đồng đội. Bọn thám báo ném lựu đạn cay, tôi ngất đi… khi tỉnh dậy đã thấy mình bị trói chặt nằm trên sàn trực thăng “cá lẹp” của Mỹ. Tôi bị địch đưa về Huế, vào Đà Nẵng rồi sau đó đưa về giam tại Tổng y viện cộng hòa Sài Gòn; Tháng 4-1969, địch chuyển đi biệt giam ở Phú Quốc.
… Sau hiệp định Pa-ri, tôi nằm trong số tù binh được trao trả sau cùng vào đợt tháng 4-1973. Tháng 12 năm đó, sau khi được an dưỡng ở Quảng Ninh, tôi được trở về gia đình. Cả làng Phượng Lịch kéo đến nhà tôi để thăm “ma” ông Dương (Tôi ví như người chết sống lại vì địa phương đã làm lễ truy điệu cho tôi hồi tháng 3-1969). Sau này ông Đoàn Sáu, Chính ủy Trung đoàn Triệu Hải kể lại với tôi rằng: “Sau khi xác minh không phải cậu đào ngũ, không có dấu hiệu cậu bị bắt vì không thấy trên địa bàn tác chiến của Trung đoàn bị lộ bí mật do bị khai báo nên đơn vị đã quyết định báo tử cậu”.
Ông Dương dừng lại ngẫm nghĩ như để sắp xếp lại các sự kiện rồi kể tiếp: “Về nhà chỉ được một thời gian ngắn, vết thương cũ tái phát và tôi lâm chứng bệnh hiểm nghèo: liên tục lên cơn động kinh, mất trí nhớ; đi hết bệnh viện này sang bệnh viện khác cũng không khỏi. Rồi một lần nằm điều trị ở bệnh viện Diễn Châu, tôi hỏi thăm một bệnh nhân quê Diễn Thịnh mới biết liệt sĩ Hoàng Quang Vinh vẫn chưa tìm được phần mộ. Ký ức về người pháo thủ đồng hương dũng cảm, người đồng đội thân thiết hiện về. Tôi nhớ lại như in khuôn mặt hiền từ của Vinh và như thấy anh đang cười để lộ chiếc răng vàng trông rất duyên. Tôi lại như nghe văng vẳng tiếng còi đồng-Chiếc còi đồng mà tôi đã gói vào túi ngực người đồng đội có chiếc răng vàng đã nằm lại tại Cam Lộ năm xưa… “Phải đi tìm lại mộ của Vinh”- Tôi thề với linh hồn bạn tôi như vậy và như có một sức mạnh thần diệu nào đó đã giúp tôi dần bình phục sức khỏe…
… Thời kỳ ấy người con trai cả của liệt sĩ Hoàng Quang Vinh là Hoàng Quang đã tốt nghiệp đại học và từ nước ngoài trở về. Nhận được tin báo của tôi, Quang lập tức từ Nha Trang ra đón tôi đi ngay vào Quảng Trị để tìm mộ cha. Đó là một ngày cuối tháng 7 năm 1999. Ba mươi năm sau mới quay lại chiến trường cũ, tôi vẫn khẳng định với Quang là nhớ rất kỹ địa điểm chôn cất cha cậu. Nhưng, khi xác định được nơi tôi trực tiếp chôn cất hồi đó thì mộ chỉ còn dấu tích đã quy tập. Chúng tôi được chính quyền địa phương cho biết 3 ngôi mộ ấy đã được đưa về nghĩa trang huyện Cam Lộ. Người quy tập đã ghi lại chi tiết đặc điểm của từng bộ hài cốt, trong đó ngôi mộ nằm giữa đã tìm thấy một chiếc còi đồng và một chiếc răng vàng. Từ những chi tiết này, tôi đã khẳng định được đó chính là phần mộ của Hoàng Quang Vinh. Nhưng khi chúng tôi tới nghĩa trang Cam Lộ thì ngôi mộ “vô danh” được đánh số “27” quy tập từ đồi O1 theo khẳng định của tôi là mộ của Hoàng Quang Vinh đã được một gia đình từ Hà Nội vào nhận và gắn bia khắc tên liệt sĩ: “Nguyễn Khuyến”. Tôi như người mắc tội lớn, còn Quang thì không biết nói gì, cả hai chú cháu đã khóc bên bia mộ liệt sĩ “Nguyễn Khuyến”!… Nhưng rồi như có một sự linh diệu mách bảo, Hoàng Quang tin ngôi mộ liệt sĩ “Nguyễn Khuyến” là của cha cậu. Tôi cũng tin vào trí nhớ và linh cảm của mình, động viên Quang nên tìm gặp người thân của liệt sĩ Nguyễn Khuyến ở Hà Nội để xác minh thêm.
Bẵng đi một thời gian dài không có liên lạc với Quang, rồi thật bất ngờ-ngày 13 tháng 4 năm 2007, tôi nhận được giấy mời của xã Diễn Thịnh đến dự lễ rước hài cốt liệt sĩ Hoàng Quang Vinh về nghĩa trang quê nhà! Sau nhiều lần kiểm tra xét nghiệm ADN chu đáo, Viện công nghệ sinh học Việt Nam đã có kết luận chính thức: Hài cốt dưới ngôi mộ liệt sĩ “Nguyễn Khuyến” là hài cốt của liệt sĩ Hoàng Quang Vinh”.
Ông Dương ngừng kể, trầm ngâm nhìn ra phía cửa, đôi mắt ông như mờ đi. Giọng ông trầm xuống như nói với chính mình: “Vậy là hành trình của chiếc còi đồng và chủ nhân của nó đã về đích!”.
Bài và ảnh: Trần Cảnh Yên