Tháng 10-2007, nhà văn Trần Văn Tuấn đã trở thành người thứ 11 đại diện giới văn học Việt Nam vinh dự nhận giải thưởng văn học Đông Nam Á. Giải thưởng ấy đã ghi nhận những sáng tác đương thời của anh và cả một thời Trần Văn Tuấn “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” từ năm 1970, làm thơ, viết văn, viết báo từ chiến hào miền Đông Nam Bộ và nước bạn Cam-pu-chia.
Làm báo, viết văn
PV: 30 năm qua, anh đã cho ra đời hơn 30 tập sách, đủ cả truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết. Không hiểu anh viết văn vào lúc nào trước áp lực công việc của một Phó tổng biên tập tờ nhật báo như Sài Gòn giải phóng?
Nhà văn Trần Văn Tuấn: (Cười, thủng thẳng). Ngoài những lúc làm báo, làm quản lý là tớ viết. Nói vui thế thôi, tớ viết văn hơi khác mọi người. Khi gặp vấn đề chỉ lóe lên hoặc chợt đến là tớ bình tâm viết ngay, viết hào hứng, nhẹ nhàng, không cầu kỳ, gò ép. Khả năng tập trung cao, trí nhớ tốt giúp cho tôi dựng nên cốt truyện nhanh và huy động tối đa vốn sống. Cái hấp dẫn của tác phẩm chính là cốt truyện. Có cốt truyện hay nó lôi cuốn mình làm việc không biết mệt mỏi, không kể thời gian. Tôi luôn nhớ lời khuyên của nhà văn Tô Hoài: mỗi ngày nên viết dăm ba trang, chớ để ngòi bút gián đoạn. Văn ôn võ luyện là thế. Có cuốn sách vài trăm trang, tớ chỉ viết khoảng một tháng.
Còn áp lực làm báo ở đây rất cao. Tôi phụ trách nội dung nhiều ấn phẩm, tiêu tốn nhiều thời gian, nhưng khi cần viết văn, tôi chuyển “kênh” rất nhanh, không để chi phối, ảnh hưởng nhau. Đôi khi viết văn cũng là một cách giải trí. Phải tận dụng mọi thời gian có thể để viết.
* Có tác phẩm nào thành công, bắt đầu từ sự “lóe lên, chợt đến” của anh?
- Nhiều chứ. Gần đây nhất là tiểu thuyết “Đại gia tỉnh lẻ”. Trong khi làm báo, đến các địa phương, tôi nghe được những chuyện làm ăn của các doanh nghiệp, thế là lóe lên ý tưởng xây dựng cuốn tiểu thuyết về một thế hệ ông chủ ít dính dáng đến chiến tranh, mờ ảo với hội nhập, làm ăn theo bản năng, học hành không tới đầu tới đũa nhưng năng động, nhiệt tình, ham làm giàu, làm có cái đúng, có cái sai. Bên cạnh đó là lớp cán bộ già cũ, bảo thủ, chỉ lo giữ ghế. Tác phẩm là bức tranh có những mảng sáng tối, mang tính tư tưởng, cảnh báo với xã hội thời hội nhập.
* Anh làm báo mà viết văn. Mối duyên nghiệp ấy thế nào?
- Nói chung là tốt đẹp! Làm báo mà viết văn được thì chỉ có tốt thôi. Cả hai công việc này đều nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị, định hướng dư luận, xây dựng xã hội lành mạnh, hướng tới chân, thiện, mỹ. Người làm báo mà viết văn, có nhiều lợi thế khi sáng tác văn học. Đó là vốn sống đa dạng, cập nhật thông tin chính trị, kinh tế, xã hội; trực tiếp hoặc gián tiếp gặp gỡ các mẫu người, các hoàn cảnh... sẽ gợi mở ý tưởng cho sáng tạo văn học, sẽ bắt mạch đúng nhịp đập của cuộc sống. Tuy nhiên, đó cũng là con dao hai lưỡi. Nếu không khéo thì nhà văn bị ảnh hưởng tư duy làm báo, viết khô khan, hời hợt kiểu phản ánh đơn thuần. Ngược lại nếu viết báo mà lại lạm dụng văn chương, lúc nào cũng uốn éo, hư cấu thì cũng không ổn. Làm báo trong văn hay làm văn trong báo, đều dở hơi.
Mạch nguồn sáng tạo
PV: Được biết anh có một tuổi thơ lam lũ ở vùng bán sơn địa Kim Bảng, Hà Nam. Anh đam mê văn chương từ lúc nào?
Nhà văn Trần Văn Tuấn: (Cười hóm hỉnh). Thời học phổ thông ở quê, tôi thi học sinh giỏi toán miền Bắc, nhưng không học lệch – văn cũng khá, toàn điểm 4 và 4 cộng (thang điểm 4/5). Chính tuổi thơ lam lũ là một vốn quý giúp tôi rất thuận tay, rất nhiều cảm xúc mỗi khi phác họa những thân phận khổ đau, những nỗi bất hạnh trong cuộc đời.
* Còn cuộc đời quân ngũ?
- Đó chính là nguồn cội sự nghiệp văn chương của tôi. Đó cũng là mảnh đất màu mỡ tôi đã, đang và sẽ cày sâu, cuốc bẫm hơn nữa. Có lẽ suốt đời tôi chẳng quên được những ngày huấn luyện tân binh ở Nho Quan, Ninh Bình. Đúng ngày Nhà giáo Việt Nam năm 1970 thì chúng tôi hành quân vào Nam. Tôi thuộc dạng thấp bé nhẹ cân nhưng vượt Trường Sơn chẳng chịu thua kém những đồng đội sức vóc vạm vỡ. Sau 3 tháng 10 ngày hành quân, khi vượt qua Đường 9, đồng chí trung đội trưởng chia cho bao thuốc lá Tam Đảo và gói kẹo Hải Hà (Hà Nội), bọn tôi mới biết là đã đến Tết Nguyên đán Tân Hợi. May mắn cho tôi là những năm 1973, 1974, tuy trong quân ngũ nhưng được tiếp xúc, gần gũi với giới văn nghệ T4 (khu Sài Gòn-Gia Định) nên chất văn học trong người được khơi dậy. Những bài thơ tôi viết tại vùng nam Bến Cát– chỉ là những cảm xúc chân thành của người lính – được giới thiệu ở tuần báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam), cuối năm 1975. Khi chiến sự biên giới Tây Nam rục rịch (năm 1978), tôi viết suốt một đêm, hoàn thành bài thơ “Về một sự thật”. Bài này được in ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội và nhiều tờ báo khác, sau đó trở thành tiết mục “đinh” của Đoàn văn công Quân khu 7 suốt những năm chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. Có nhiều nhà phê bình đánh giá bài thơ ấy là một dạng xã luận bằng thơ, thể hiện chất chính luận về sự kiện bảo vệ biên giới Tổ quốc của quân dân ta và phác họa đúng bộ mặt kẻ thù.
* Hình như những tác phẩm ấy xuất hiện khi anh tái ngũ?
- Đúng thế! Năm 1975, tôi chuyển ngành về báo Văn nghệ giải phóng, (sau sáp nhập thành cơ quan đại diện tuần báo Văn nghệ ở phía Nam). Khi chiến tranh biên giới nổ ra, tôi lại tái ngũ, công tác tại phòng tuyên huấn Quân khu 7, cùng các anh Minh Khoa, Thanh Giang, Văn Lê, Nguyễn Ngọc Mộc... Chính những năm ấy, khi trở lại quân đội, mình có cái nhìn về đời quân ngũ và cuộc chiến đấu tỉnh táo, đầy đủ hơn.
Năm 1978 cũng là năm mình bắt đầu viết văn xuôi. Cũng thật tình cờ. Khi các nhà văn Vũ Sắc, Lê Lựu đến đơn vị công tác, gợi ý tôi viết một tập sách về chiến tranh biên giới Tây Nam, tôi viết luôn bài bút ký về một trận đánh. Tác phẩm được in trong tập truyện ký của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân và được dư luận khen. Có trớn rồi, tôi viết luôn truyện ngắn “Gia đình”, đăng trên báo Tuổi Trẻ năm 1980 và số Xuân của tạp chí Văn nghệ Quân đội, cũng gây xôn xao dư luận. Mãi đến năm 1984, tớ mới ra tiểu thuyết đầu tay “Từ một chuyến tàu”, sau này được chuyển thể thành phim truyền hình...
Bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc
PV: Là nhà văn, lại có cái nhìn của nhà báo, anh thấy diện mạo văn học nước nhà hôm nay thế nào?
Nhà văn Trần Văn Tuấn: Câu hỏi này lớn quá! Tôi chỉ khái quát đôi nét thôi. Cũng giống như nền kinh tế nước ta, văn học đang trong giai đoạn quá độ, chuyển tiếp sang hình hài mới. Dòng chủ lưu của văn học nước ta vẫn là dòng văn học nhập thế, phản ánh các mặt đời sống, tâm lý xã hội, con người. Dù vậy, về hình thức thì thấy ngay bức tranh văn học nhiều sắc màu nhưng ẩn chứa những mảng tối, tiềm ẩn sự bất trắc. Sự biến động của nền kinh tế đang tác động vào văn học, vào văn hóa, vào chính trị, và nhân cách con người. Đương nhiên về nguyên tắc chúng ta vẫn nói phải tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, hòa nhập mà không hòa tan để bổ sung làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc, nhưng ai làm việc đó, làm như thế nào? Trước hết phải là các nhà lãnh đạo, quản lý xã hội, rồi đến các văn nghệ sĩ. Các nhà quản lý phải nêu cao trách nhiệm và tài năng, tạo cho dân ta có sức đề kháng với văn hóa xấu độc, biết thải loại nó.
* Anh cảm nhận gì về lớp nhà văn trẻ?
- Điều rõ nhất là lớp trẻ hôm nay đầy nhiệt huyết, nhiều khả năng, nhanh nhạy tiếp thu cái mới song còn thiếu độ chín, thiếu vốn sống. Sự chuẩn bị của xã hội và của nhà văn trẻ không căn cơ; chỉ lo đầu tư về kỹ thuật, về vi tính, ngoại ngữ nhưng coi nhẹ cái nền lý luận triết học và kiến thức chính trị, xã hội. Vì vậy, họ còn thiếu bề dày cuộc sống, bản sắc chưa định hình khó có những tác phẩm sâu sắc, có giá trị cao.
* Trong chuyến đi nhận giải thưởng văn học ASEAN tại Thái Lan, anh rút ra điều gì về văn học khu vực này?
- Giống như tôi vừa nói, vấn đề bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc là nhiệm vụ sống còn của chúng ta. Đó cũng là tiếng nói chung của các nhà văn tiêu biểu của ASEAN mà tôi nhận thấy rất rõ nét. Trong giao tiếp, hội thảo, các nhà văn đều nói đến trách nhiệm của mình trong vấn đề bảo vệ - phát triển văn hóa dân tộc và trách nhiệm xã hội. Khi tôi nêu một thực tế là: công nghệ giải trí, công nghệ nghe nhìn đang lấn lướt, đẩy văn hóa đọc vào tình thế khó khăn, đã được các đồng nghiệp ở Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, Bru-nây… chia sẻ. Các bạn cũng nêu ra những con số, những thông tin không mấy sáng sủa về thị trường sách văn học ở nước họ. Các nhà văn đều có chung quan niệm về sức hấp dẫn của văn học. Sức hấp dẫn của văn học chỉ có thể có được trong dòng chảy chính thống của văn hóa dân tộc, của xu hướng tiến bộ tích cực của thời đại nhằm hướng tới mục tiêu chân, thiện, mỹ.
* Anh có dự định gì về đề tài chiến tranh cách mạng?
- Cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc và cuộc sống, chiến đấu trong đời quân ngũ năm xưa là miếng đất màu mỡ và là nguồn cảm hứng sáng tạo vô tận của tôi về văn học. Khi chiến tranh đã lùi xa, từ cái nhìn nhân văn và bề dày cuộc sống chiêm nghiệm, tôi vẫn muốn có những tác phẩm sâu sắc và dày dặn hơn về đề tài này. Còn sức, tôi còn viết!
* Xin cảm ơn anh!
ĐÀO VĂN SỬ thực hiện