 |
|
Một góc bản Ón nhìn từ núi cao. |
Chuyến công tác của nhóm phóng viên chúng tôi dừng lại ở bản Ón, nơi xa nhất của huyện Mường Lát-Thanh Hóa. Đó là con đường tuần tra biên giới đang được thi công. Đường qua nhiều dốc cao, vực thẳm, suối sâu nguy hiểm. Nơi đây, nhìn trên bản đồ Tổ quốc chính là điểm chót cùng của cái doi đất chìa ra phía Tây Bắc như một ngón tay út. Có lẽ vì thế mà được gọi là Ón, tiếng Mông nghĩa là “nơi tận cùng”. Nơi đây, con đường Tây Tiến ngày xưa Quang Dũng cùng đoàn quân bi tráng của ông đã hành quân qua, “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.
Mây trắng đến giữa trưa vẫn chưa tan hết, lãng đãng, chập chờn trong thung lũng. Lãng đãng như trí nhớ của ông Giàng A Sình vẫn không thể nhớ nổi cả gia đình ông đã đến đây từ bao giờ, từ đâu… Chỉ biết, đó là một nơi rất xa ở vùng Tây Bắc, bước chân ông đã dắt díu vợ con, cháu chắt đi qua hàng trăm nghìn ngọn núi. Đi mãi đi mãi, đến nơi nào đất đai màu mỡ, không khí trong lành, có suối có nương có rừng thì dừng lại dựng nhà, phát rẫy. Khi nào đất đai bạc màu, nguồn nước đã bẩn, cái nương cái rẫy không nuôi nổi người, săn bẫy con thú phải đi xa quá, thì “Giàng bảo ta đi nơi khác rồi, ta phải đi thôi…”. Giàng A Sình và vợ ông cùng đàn cháu lít nhít lần đầu tiên trong đời nhìn thấy chiếc máy ảnh của chúng tôi. Họ trầm trồ, nói với nhau bằng tiếng Mông khi ống kính hướng về phía họ. Một cán bộ đội cơ sở huyện Mường Lát ghé tai chúng tôi: “Họ sợ chiếc máy ảnh, họ nghĩ đó là một con vật kỳ lạ, có con mắt rất to”. Chúng tôi đành phải cất “con vật mắt to” vào ba lô, để mọi người trò chuyện tự nhiên. Giàng A Sình thấy vậy, yên tâm hẳn, cầm tay cán bộ Đoàn kinh tế-quốc phòng 5, nói bằng tiếng Mông, rằng nếu không có bộ đội giúp đỡ thì ông và mấy chục hộ bản Ón không bao giờ có được ngôi nhà bề thế và khang trang này. Người Mông không bao giờ chịu rời khỏi núi cao, nếu công tác tuyên truyền, vận động chỉ dựa vào bài bản, tài liệu một cách cứng nhắc. Các tổ, đội công tác đã đến nhà già làng, nói rõ thiệt hơn… Rồi một sớm đầu xuân, già làng rời khỏi cái nệm bông cũ đã sờn trong góc nhà, nhắc mọi người thu dọn đồ đạc… Già làng khoác lên vai cái túi vải đựng hạt giống lúa nương, xuống núi. Trong những nóc nhà chênh vênh trên sườn núi khác, mọi người lục tục thức dậy, sắp xếp xoong nồi, bát đũa lần theo con đường mòn quanh co chập chùng sương trắng, theo bước chân chậm rãi của già làng…
Đứng trên điểm cao, bao quát được một vùng rộng lớn biên cương, những con đường mòn như sợi chỉ của người dân đi làm nương vắt ngang những sườn núi trọc. Thấp thoáng là những căn chòi canh rẫy của bà con người Mông. Doanh trại đồn biên phòng 483 và những nếp nhà mái gỗ mới tinh khôi của bà con người Mông yên bình trong thung lũng. Ngày xưa, đoàn quân của Quang Dũng đi Tây tiến giết giặc. Bây giờ bộ đội Đoàn KT-QP 5 và bộ đội biên phòng đi Tây tiến vì một cuộc sống mới nơi miền biên ải tận cùng này... Những chàng “Tây tiến” bây giờ: Hùng, Quý, Phi, Tuấn, Cảnh… đều trẻ trai, áo, mũ biên phòng che kín mặt, ngẫu hứng đồng thanh trong gió lạnh những câu thơ Tây tiến: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ/ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh/ Áo bào thay chiếu anh về đất/ Sông Mã gầm lên khúc độc hành/ Tây tiến người đi không hẹn ước/ Đường lên thăm thẳm một chia phôi/Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy…”.
Và nhà thơ Tây tiến một đời chinh chiến, một đời thơ lận đận, sau này ông có dịp nào trở lại con đường Tây tiến để về lại nơi tận cùng này không? Hay những trầm luân trong cuộc đời đầy bất trắc đã làm ông mãi mãi tưởng vọng đến thời trai trẻ của mình, nhớ về Mường Lát, Mộc Châu, Sầm Nứa, nôn nao giữa những giấc mơ?
Bài và ảnh: TRẦN HOÀI