Tác giả (bên trái) chụp ảnh kỷ niệm với bà con Phlau-mia (huyện Pai-lin). Ảnh: Hồng Thanh Quang

Trung tuần tháng 5-1989. Tôi vừa từ quần đảo Trường Sa về Ban đại diện báo Quân đội nhân dân tại thành phố Hồ Chí Minh được vài hôm thì nhận được điện của trưởng phòng Quân sự ở Hà Nội thông báo: “Chờ thêm một phóng viên của phòng Thời sự quốc tế ngoài này vào để cùng sang Cam-pu-chia viết bài về đợt rút quân Tình nguyện khoảng tháng 9 sắp tới!”.

Quả là một dịp may vì tôi đi bộ đội khi đất nước đã thống nhất nên chưa biết chiến trường là gì. Cuối năm 1988 vừa về báo Quân đội nhân dân, tôi xin lên mặt trận Vỵ Xuyên. Bấy giờ cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc không còn căng thẳng như trước, nhưng tôi cũng “vớt vát” được đôi chút không khí chiến trường sau hơn một tuần ở các tổ chốt của Trung đoàn 48-Sư đoàn 316. Và lần này là lần thứ hai tôi thực sự được ra mặt trận. Cuộc chiến đấu truy quét đám tàn quân Pôn-pốt của quân và dân Cam-pu-chia được sự giúp đỡ của quân Tình nguyện Việt Nam đã bước sang năm thứ mười. Mười năm qua, ta đã mấy đợt rút quân và lần này tuyên bố đến tháng 9-1989 sẽ rút hết toàn bộ.

Ngày 13-5-1989. Sau một ngày đôn đáo không liên hệ được xe quân đội để đi nhờ, chúng tôi đành mua vé xe khách từ TP Hồ Chí Minh đi Phnôm-pênh. Sáu giờ sáng xe chuyển bánh, xế chiều đã đến chợ Ô-lim-pích của thủ đô Phnôm-pênh. Từ chợ Ô-lim-pích về căn cứ của Mặt trận 979 cạnh sân bay Pô-chen-tông phải đi xe ôm. Vào cơ quan, Thiếu tướng Bảy Sanh-Phó tư lệnh Mặt trận 979-giới thiệu lên phòng tuyên huấn, kèm theo mấy lời rất thân ái: “Sang đây chỉ mười ngày thì ít quá! Trong thời gian chờ phương tiện lên Pai-lin, tranh thủ thâm nhập các đơn vị quanh đây cũng khối chuyện đáng viết lắm!”.

Ngày 17-5-1989. Bảy giờ kém hai mươi phút sáng, Văn phòng Mặt trận cho xe chở ra sân bay Pô-chen-tông. Chiếc trực thăng mang số hiệu 7803 của Mặt trận 979 đã nổ máy chờ sẵn. Máy bay cất cánh, nhằm thẳng hướng Tây-Nam. Lần này chúng tôi được “bám càng” Thượng tướng Lê Ngọc Hiền-Phó tổng tham mưu trưởng và Trung tướng Lê Hai-Phó đại diện Bộ Quốc phòng nước ta tại nước bạn. Trực thăng đáp xuống một khoảnh đất bằng phẳng cạnh Sư đoàn bộ sư 330. Vùng này thuộc xã Phlau-mia của huyện Pai-lin, tỉnh Bát-đom-boong. Động cơ vẫn nổ ầm ầm, cánh quạt vẫn quay tít. Một tốp bộ đội đã chờ sẵn và khi những người cuối cùng trong đoàn chúng tôi vừa bước xuống khỏi cầu thang máy bay là họ vội vàng chuyển những chiếc cáng thương lên. Trên cáng, những chiến sĩ trông còn trẻ măng, người băng quấn đầu, người băng quấn chân, có người không băng bó gì nhưng gầy gò, xanh mét, bất động. Chợt nhớ một câu thơ viết về bộ đội tình nguyện Việt Nam ở Cam-pu-chia sau năm 1979: “Chẳng bia mộ nào cho những bàn chân”. Bộ đội ta thương vong chủ yếu là do mìn và thương tật chủ yếu là cụt chân vì mìn. Cả nước Cam-pu-chia bấy giờ đang là một bãi mìn khổng lồ, rậm rịt, nhằng nhịt… Mặt trận phía này thương vong khá lớn. Quân tình nguyện sắp rút hết nên phải đưa hài cốt anh em về theo. Bốn vách nhà cơ quan chính trị trống hoác vì đợt vừa rồi thiếu ván đóng hòm hài cốt, Ban chính sách phải dỡ cả ván thưng nhà ở. Ấn tượng về những chiếc cáng thương lặng lẽ ở bãi đáp trực thăng và ngôi nhà cơ quan trống hoác vì ván bị dỡ đóng quan tài khiến tôi chọn đơn vị quân y là điểm thâm nhập đầu tiên. Tiểu đoàn quân y cũng là trạm xá sư đoàn. Đây là trạm xá tuyến hai. Tuyến một là các trạm xá trung đoàn, đôi khi phải phẫu thuật và cưa cắt tứ chi như một bệnh viện tiền phương. Tiểu đoàn trưởng quân y là Đại úy Hồng Nhật Hùng, quê ở thành phố Vinh, Nghệ An. Hùng kể: Trước đây ta thường chủ động mở chiến dịch vào mùa khô, còn địch thì thường chủ động quấy phá vào mùa mưa. Nhưng vài năm nay thì quanh năm có địch, quanh năm truy quét.

Xuống trạm xá, ngồi đâu cũng nghe anh em kể chuyện sốt rét, bị phục kích, bị mìn phạt chân… Chuyện nào cũng thật thương tâm. Tháng trước, Thiếu tá Châu Văn Nghĩa-Phó trung đoàn trưởng E9-đi kiểm tra địa hình thì gặp địch phục kích. Các anh chiến đấu quyết liệt. Anh Nghĩa bị thương nặng, ra lệnh cho anh em rút còn anh thì ở lại chặn địch. Mọi người đề nghị cõng anh theo, Nghĩa cáu lên bảo rút ngay. Có người rơi nước mắt, Nghĩa động viên, và dặn: Chỉ nhờ anh em đồng đội giúp đỡ dựng cho vợ con một ngôi nhà. Bao nhiêu năm nay vợ con anh ở Cửu Long vẫn chưa có ngôi nhà riêng để ở…

Hỏi chuyện hai thương binh trẻ nằm chung một tấm sạp. Hạ sĩ Võ Hùng Sơn là lính Trung đoàn 3, quê ở huyện Chợ Mới, tỉnh Tiền Giang. Sơn mồ côi bố, chỉ còn mẹ già, nhà có 8 chị em, Sơn là con thứ năm và là con trai độc nhất, đi bộ đội tháng 2-1986. Ngày 28-4-1989, trong lúc đang truy kích địch thì Sơn bị một mảnh đạn cối phang vào chân. Vết thương chưa lành hẳn nhưng cu cậu có vẻ nhanh nhẹn hoạt bát lắm. Lúc nào cũng bảo: “Thế là em đã thành khỉ què”. Chẳng là cậu ta sinh năm 1968, cầm tinh con khỉ. Trung sĩ Phan Minh Châu nằm cạnh Sơn, người huyện Mỏ Cày-Bến Tre, hơn Sơn những sáu tuổi. Trước khi đi bộ đội, Châu đã là công an viên của xã. Hồi đó Châu chưa đi bộ đội là vì có anh trai đang chiến đấu ở Cam-pu-chia. Năm 1985 anh trai bị thương và phục viên, Châu được lệnh nhập ngũ. Tháng trước, trong một trận chiến đấu, tiểu đội của Châu đào hào lấn dũi vào sát trận địa của địch. Nghe tiếng xẻng xúc đất, địch tập trung hỏa lực bắn ra, anh em mình đánh trả quyết liệt. Châu mang theo 8 quả B45 đã bắn hết 6 quả. Một quả cối của địch nổ ngay sau lưng, Sơn bị mảnh cối găm vào chân và lưng… Châu vừa nhận được tin cậu em ruột cũng đang chiến đấu ở Tà Sanh, nhưng không rõ ở đơn vị nào?

Làm cán bộ dân vận ở bên này cũng vất vả và nguy hiểm chẳng kém gì anh em đang truy kích địch trong rừng. Hỏi chuyện về công tác này, nhiều người nhắc đến Trung úy Trần Duy Thông, 26 tuổi, đội trưởng đội xây dựng cơ sở của Trung đoàn 3. Anh Thông quê ở Nghệ Tĩnh, đã có vợ và một con, làm dân vận rất giỏi, được bà con tin yêu, quý mến. Bọn địch rất thù anh và tìm cách sát hại. Ngày 3-10-1987, trên đường đi xây dựng cơ sở, Thông lọt vào ổ phục kích của chúng. Bà con phum Phlâu-mia làm ma cho anh và khóc rất nhiều. Tháng 7-1988, thêm một chiến sĩ dân vận bị hy sinh trong lúc làm nhiệm vụ. Anh là Trần Thanh Hà, quê ở Bến Tre, sang bên này mới hai năm nhưng thạo tiếng Khơ-me và am hiểu phong tục tập quán địa phương nên đi dân vận rất tốt. Trung sĩ Dương Văn Thành cũng là một người như thế, nhưng vừa rồi bị đái huyết cầu tố nặng quá, phải chuyển về phía sau.

“Sư phụ” dân vận ở Sư đoàn 330 phải kể đến Thiếu tá Lê Minh Trọng, Phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn. Anh vốn là cán bộ huyện đội Đức Thọ-Nghệ Tĩnh, được gọi vào chủ lực sau hồi tổng động viên năm 1979, làm lính cao xạ bảo vệ thủ đô Phnôm-pênh những ngày đầu mới được giải phóng, sau mới chuyển sang bộ binh. Hiện nay vợ con anh vẫn làm ruộng ở quê nhà. Tròn mười năm làm quân tình nguyện giúp bạn, anh đã có mặt gần như khắp mọi hang cùng ngõ hẻm ở Cần-đa, Xrây-viêng, Com-puông-spư… lại vòng lên Xiêm-riệp, Bát-đom-boong… Cái chất nông dân cộng với kinh nghiệm của một cán bộ huyện đội thật hợp với nhiệm vụ của một chuyên gia quân sự địa phương. Bạn bè chiến hữu Khơ-me của anh ở bên này, có người nay đã là cán bộ cao cấp như Ô-lơ-vi hiện đang công tác trên Bộ Quốc phòng của bạn. Còn Út-xmát và Mau-xvát, Sư đoàn trưởng và Sư đoàn phó Sư đoàn 92 bộ đội địa phương Quân khu 3 của bạn thì vẫn thường xuyên trao đổi thư từ, liên lạc với anh. Vừa mới chuyển về Sư đoàn 330 được mấy tháng, anh đã quen mặt hầu hết trẻ con, người lớn trong các phum sóc. Theo anh vào phum, gặp ai cũng kêu “Boòng Trọng” rất thân mật…

Sáng 19-5-1989. Phòng chính trị thông báo hôm nay sẽ đưa nhà báo lên “Vườn nhãn”. Trung đoàn 1 sau đợt truy quét địch, vừa trở về Vườn nhãn đêm qua. Vườn nhãn là một vùng vườn tược khá rộng và bằng phẳng, có lẽ trước kia là trang ấp của một Lục-thum (ông lớn) nào đó. Trong vườn chủ yếu là xoài và nhãn, có cả một cánh đồng mía bạt ngàn dễ đến vài năm không ai chặt nên mía trổ cờ phất phơ như lau sậy um tùm. Đang mùa xoài chín bói nhưng không có ai thu hoạch. Đêm đêm xoài rơi lộp bộp đầy vườn, nghe thật não nề, hiu quạnh…

Đất nước xứ người mênh mông xa lạ thế, vậy mà cũng có những cuộc tái ngộ thật bất ngờ thú vị. Hôm từ Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh, tôi ngồi cùng ghế với một anh bộ đội, chuyện trò trên trời dưới bể với nhau suốt hơn hai ngày đêm. Rồi chia tay nhau ở ga Sài Gòn, đường ai nấy đi. Nào ngờ hôm nay lên Vườn nhãn, lại gặp anh ta ở đây. Thì ra anh là bác sĩ tốt nghiệp Đại học quân y ở Hà Đông năm 1984, sang đây từ năm 1985, vừa được đi phép để cưới vợ giữa tháng Tư vừa rồi. Còn hôm đi xe khách từ thành phố Hồ Chí Minh sang Cam-pu-chia, tôi ngồi cạnh một chiến sĩ tình nguyện cũng vừa đi phép về quê Nghệ Tĩnh. Chia tay nhau ở Phnôm-pênh, nào ngờ hôm nay lại “chạm” nhau ở đây. Lúc này tôi mới biết tên anh là Dưỡng, ở tiểu đoàn pháo binh…

Nhưng “người quen” ấn tượng nhất ở Vườn nhãn phải kể đến anh Bảy Đùm. Hôm nọ ở cơ quan sư đoàn bộ, tôi đã tình cờ gặp anh, lúc anh đang “hăng hái” tranh luận (hay báo cáo gì đó) với mấy cán bộ tham mưu sư đoàn:

- Địch phía này không hình thành tiền duyên, không phòng ngự theo thế liên hoàn mà bố trí từng chốt riêng rẽ. Vậy thì phải đánh cách khác chứ? Nói thật nhé: Khu vực này tụi đi khảo sát về vẽ loạn xị ngậu, yêu cầu điều 2 tiểu đoàn. Nhưng tôi cam đoan chỉ cần một dê, đòm vài quả pháo là chúng chạy như vịt…

Cái khẩu khí của một viên đại úy trước mặt cấp trên khiến tôi chú ý. Người tầm thước, da đen xạm, vết thẹo như một con đỉa vắt ngang lưỡng quyền má phải trông thật dữ dằn. Mỗi khi “con đỉa” ấy đỏ tấy lên và giật giật liên hồi là anh đang rất cáu, nhưng toàn nói đúng. Thoạt đầu tôi cứ tưởng Bảy Đùm là biệt hiệu, gặp nhau ở Vườn nhãn, mới hay đó là tên cúng cơm của anh. Người em kế của anh đang làm bí thư huyện ủy cũng tên là Tám Túm. Quê anh ở xã Diễm Điền, huyện Châu Thành-Tiền Giang. Nhà nghèo nên học hành lẹt đẹt mãi vẫn không qua nổi lớp năm. Hồi Mỹ đổ quân vào miền Nam anh vừa mười sáu tuổi, trốn theo bộ đội địa phương, sau được lên chủ lực. Mậu Thân sáu tám anh đã có mặt ở Cam-pu-chia. Sau năm bảy mươi được về nước đi học văn hóa cấp hai, học quân chính để làm sĩ quan phân đội. Đến năm 1980 lại sang Cam-pu-chia đến nay. Chẳng biết có phải vì anh chưa qua trường lớp chính qui, hay vì cái tính hay nổi nóng với cấp trên… mà kịch trần đại úy đã vài niên hạn vẫn chưa thấy cấp trên “vận dụng” chế độ gì. Ai cũng tiếc cho anh, một cán bộ sâu sát, năng nổ, đánh nhau thì tuyệt vời. Thế mà anh thì chẳng có biểu hiện “cay cú” hay than vãn tí tẹo nào, lại bảo: “Nhân bất học bất tri lý. Tao ít học nên kịch trần đại úy”.

Mười chín năm đã trôi qua, cuộc đời làm báo đã đưa tôi đi nhiều nơi, đến nhiều đơn vị, gặp gỡ nhiều người… nhưng những ngày sống với các chiến sĩ quân tình nguyện ở Pai-lin là những kỷ niệm thật sâu sắc, những ấn tượng thật đặc biệt trong tôi…

MAI NAM THẮNG