Trận đánh ngày 4-4-1965 được Hãng tin Pháp AFP (ngày 5-4) đưa tin: “Máy bay phóng pháo loại hiện đại nhất của không quân Mỹ, hôm qua rõ ràng bị thua máy bay Mig 21 lạc hậu hơn”. Biên đội bắn rơi hai máy bay F105D ngày ấy gồm Trần Hanh, Phạm Giấy, Lê Minh Huân, Trần Nguyên Năm. Trong cuộc chiến đấu sinh tử ấy, 3 phi công Phạm Giấy, Lê Minh Huân, Trần Nguyên Năm đã anh dũng hy sinh. 42 năm sau ngày Trần Nguyên Năm hy sinh, chúng tôi tìm về thăm quê hương ông ở xã Diễn Hồng, Diễn Châu, Nghệ An. Bà Phạm Thị Mai - vợ ông vẫn một đời lặng lẽ thờ chồng.

Bà Phạm Thị Mai.
Căn nhà giản dị đơn sơ, một chiếc giường, bộ bàn ghế đã cũ, trong ngăn tủ là tấm ảnh đã sờn và vài chiếc giấy khen của chồng, nồi cơm nhỏ xíu treo lủng lẳng chưa ai động đũa. Có thể gặp lại chúng tôi trong những bộ quân phục xanh da trời, những ký ức ngày xưa của chồng lại sống dậy, miệng run run, nhấp ngụm chè xanh, bà bồi hồi kể lại: Năm 1953, khi đó tôi 18 tuổi, mọi người vẫn thường gọi là hoa khôi của làng. Hằng ngày, tôi thường theo mẹ ra chợ phụ giúp bán hàng. Anh Năm là một chàng trai tuấn tú, đang học lớp 5 tại Quỳnh Lưu cũng thỉnh thoảng ra chợ chơi với mẹ. Thấy chúng tôi quấn quýt, ríu rít chơi bên nhau tối ngày, hai cụ có vẻ ưng lòng. Đang học lớp 5 ở Quỳnh Lưu, bố mẹ Năm đánh điện xin phép trường cho anh về cưới vợ. Về đến nhà, anh mới ngã ngửa, hóa ra vợ mình không ai xa lạ mà chính là con gái cô hàng xén mà anh đã cảm mến từ lâu. Khi đó Năm tròn 19 tuổi, còn tôi bước sang tuổi 18.

Một năm sau, tháng 2 năm 1954, chiến trường Điện Biên Phủ đang bước vào giai đoạn cam go ác liệt, đang học dở, anh Năm xung phong đi bộ đội, tham gia vào trung đội pháo cao xạ thuộc đại đoàn 308. Trong một trận bị trúng pháo địch oanh kích, khẩu đội anh hy sinh gần hết. Trong lúc cõng đồng đội bị thương đi cấp cứu thì dính tiếp loạt pháo kích nữa của địch. Người thương binh này hy sinh trên vai nhà tôi và anh đã may mắn thoát chết. Trong thư viết cho tôi, có đoạn nhòe vì nước mắt, nhà tôi viết: “Anh nợ đồng đội một sinh mạng. Anh sẽ trả thù cho các đồng đội đã ngã xuống…”.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tháng 3 năm 1956, anh Năm được chọn sang Trung Quốc đào tạo phi công lái máy bay chiến đấu. Nhận chỉ thị của cấp trên, anh ghé thăm nhà ba ngày. Anh dặn tôi có ai hỏi thì nói với họ là anh đi làm công nhân xa. Sang đến Trung Quốc, anh viết thư đều đặn cho vợ, mỗi tháng một lá mà chỉ nói những vấn đề sức khỏe, không nói đến nhiệm vụ vì vẫn sợ tôi sơ ý để ai đó vô tình đọc thư, lộ bí mật. Tháng 6 năm 1961, lần đầu tiên sau 5 năm xa cách, Năm được về phép thăm gia đình. Thấy tôi vất vả, anh cũng không đành lòng, nhiều hôm thức cùng tôi xay lúa, giã gạo đến gần sáng. Bận đó, anh chỉ ở nhà được mười ngày rồi trở lại nước bạn.

Vợ chồng phi công Trần Nguyên Năm ngày cưới.

Ngay sau trận chiến đấu sáng 4-4-1965, cháu rể của anh Năm - người được đào tạo kỹ thuật máy bay tại Trung Quốc và cùng thuộc biên chế Trung đoàn C21 là người biết tin chú Năm hy sinh. Khi Trần Hanh hạ cánh an toàn xuống một bãi đất phía tây Nghệ An thì người cháu được lệnh đi thu hồi máy bay về đơn vị. Lúc đó qua nhà có ghé vào thăm, tôi dò hỏi tin tức của chồng, nhưng người cháu chỉ nói bóng gió rằng: “Chiến tranh mất mát, hy sinh nhiều lắm thím ơi!”.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin chồng hy sinh. Choáng váng và đau đớn, lòng tôi quặn thắt và lạc giữa vòng tay của đồng nghiệp và xóm giềng. Buổi tối hôm đó, xã tổ chức làm lễ truy điệu cho anh. Tôi cố gượng lết đến bên bàn thờ mà khóc rồi ngất lịm. Đau xót hơn là chồng hy sinh mà xác cũng không lấy được trọn vẹn, cả ba người chỉ tìm thấy một ít thi thể đưa về mai táng tại Nghĩa trang Văn Điển.

Cũng có lúc lủi thủi một mình, nỗi cô quạnh và nhớ thương lại ùa về trong tâm hồn người góa phụ. Bà Mai nhớ lại: “Có thời điểm bi quan đến tột độ, tôi đã nghĩ đến việc quyên sinh, nhưng khi nghĩ đến nghị lực của anh Năm lúc còn sống, tôi lại gượng dậy. Thương cho hoàn cảnh của tôi, lúc đó cũng có nhiều người đàn ông thương cảm, muốn chia sẻ nhưng tôi không đồng ý. Tôi sống được vậy cũng là vì anh, vì thế tôi sẽ ở vậy để thờ chồng. Hằng ngày, tôi tìm niềm vui trong công việc, hạnh phúc lớn nhất của tôi là được chữa bệnh cho mọi người”.

Cuộc sống cứ bình lặng trôi đi, trước mắt tôi, cô Mai xinh đẹp ngày nào giờ đã là bà lão 74 tuổi, ngày ngày vui vầy cùng con trẻ làng trên xóm dưới. Năm 2000, được sự giúp đỡ của Tổng Công ty bay dịch vụ Việt Nam, chính quyền xã Diễn Hồng, Diễn Châu, Nghệ An đã xây cho bà một ngôi nhà ngói hai gian khang trang trong khoảnh đất mới ven Quốc lộ 1A. Đôi bàn tay gân guốc lau những hạt bụi trên tấm hình chồng, bà nghẹn ngào: “Trước đây khi còn khỏe, hằng năm tôi vẫn thường đón xe ra Hà Nội thắp hương cho anh trong những ngày giỗ tết. Còn giờ đây tuổi đã cao, sức đã yếu, vài ba năm tôi mới nhờ con cháu đưa đi một lần”. Bà thì bao giờ vẫn vậy, vẫn một lòng chung thủy với chồng, dẫu mang tiếng vợ chồng 10 năm nhưng khoảng thời gian ở bên nhau chưa đầy 3 tháng. Vậy nhưng bà vẫn hạnh phúc và tự hào với người chồng của mình, với những chiến công của bộ đội không quân đã làm nên chiến thắng vĩ đại, trong đó có một phần xương máu của người chồng và sự hy sinh thầm lặng của người vợ.

Bài và ảnh: Hoàng Quỳnh Hoa