|

|
|
Vợ chồng ông Dương Phi Long bên căn nhà tạm bợ của mình. |
Từ thị trấn Can Lộc, chúng tôi ngược quốc lộ 15, băng qua những con đường bập bõm vết chân trâu đến thôn Vĩnh Phú, xã Phú Lộc (Hà Tĩnh), hỏi cựu chiến binh Dương Minh Long, ai cũng biết “ông Long Thành Cổ”...
Năm tháng hào hùng
Trong căn nhà xiêu vẹo, trơ trọi giữa nắng hè thiêu đốt, câu chuyện ông kể về những năm tháng chiến trường ác liệt... Ông nhập ngũ năm 1964, 3 lần đi B, trực tiếp chiến đấu trên chiến trường Gio Linh, Quảng Trị, rồi tham gia chiến dịch đường 9 Nam Lào. “Tháng 7-1972, tôi được cấp trên phân công giữ chức Trung đội trưởng, chỉ huy trung đội 2 (thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 74). Nhiệm vụ của trung đội chúng tôi là đưa lực lượng Thông tin, Trinh sát vào thành, phối hợp cùng Trung đoàn 48, Sư đoàn 320 bằng mọi giá giữ Thành Cổ. Trung đội do tôi phụ trách gồm 31 chiến sĩ quê Phú Thọ vừa mới qua 5 tháng huấn luyện tại Hoài Đức (Hà Tây). Chiến trường Quảng Trị thời kỳ này hết sức ác liệt, máy bay, pháo binh địch quần thảo suốt ngày đêm gây cho ta nhiều thương vong, nhưng các chiến sĩ rất gan dạ, dũng cảm. Hồi đó có điểm ta và địch chỉ ở rất gần nhau, tranh chấp từng mét công sự, từng góc phố, chiến hào. Địch đánh phá ngày càng dữ dội, ta cử lực lượng chốt giữ điểm cao có lợi, số còn lại ẩn nấp trong các hầm cá nhân. Một dịp, đài BBC tung tin, chính quyền Mỹ-Thiệu đã đánh chiếm hoàn toàn Thành cổ Quảng Trị, quân giải phóng Bắc Việt bị truy quét toàn bộ. Nhận được tin này, tôi nhanh chóng len lỏi qua từng góc phố, ụ súng tránh pháo kích địch, chiếm vị trí thuận lợi, viết điện thông báo về Bộ Quốc phòng: Lá cờ giải phóng của ta vẫn kiêu hãnh tung bay phấp phới giữa lòng Thành Cổ, tinh thần chiến đấu của ta vẫn anh dũng kiên cường...”.
Ông Long ngừng kể, với tay lần tìm cuốn nhật ký chiến trường, mấy tấm ảnh đen trắng, vài lá thư đã ố vàng... giọng nghẹn lại: “Cứ mỗi lần ngắm lại những kỷ vật này tôi lại thấy nôn nao...”. Vội vàng đọc lướt nhanh những dòng nhật ký chiến trường của ông, tôi không khỏi bồi hồi, xúc động. Giữa chiến trường khốc liệt, giữa sự sống và cái chết gần nhau trong gang tấc, vậy mà tâm hồn người chiến sĩ vẫn lạc quan yêu đời: Lương khô, gạo sấy, nước sông/ Chiến trường bom đạn ầm ầm ngày đêm/ Ở nơi cuộc sống êm đềm/ thấu chăng chiến sĩ ở miền phương xa/ Tháng ngày chiến đấu xông pha/ giữ thành Quảng Trị như là giữ thân (2-9-1972). Tình yêu của người lính chiến trường đơn sơ, giản dị như chính những dòng ông viết về người con gái ở quê nhà trong trang nhật ký: Tiền tuyến có anh, hậu phương có em/ Hãy cùng nhau giành nhiều thắng lợi/ Anh vẫn súng chắc tay giữa chiến trường lửa đạn/ Nơi hậu phương em chung thủy đợi chờ... (18-5-1972). Còn đây là những dòng thư của ông Nguyễn Văn Đoàn (người đồng đội thời giữ Thành Cổ) viết cho ông sau 25 năm bặt tin nhau. Nhớ như in ngày 6-9-1972, em bị thương vào đầu, anh đã cắt tóc rồi băng bó cho em. Ngày đó chiến trường ác liệt nhưng không hề run sợ, ai cũng kiên cường bám trụ. Anh ạ! Em vẫn là cậu binh nhì thuở nào mà anh là cán bộ trung đội trưởng ấy. Chắc rằng, chỉ có những ai đã trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt mới trân trọng tình đồng chí, đồng đội. Những ai trải qua chiến trường mới hiểu tận lòng nhau...
Bĩ cực chưa vơi
Cố ghìm nén cơn đau, ông Long tiếp tục kể về quãng thời gian rời quân ngũ trở về với cuộc sống đời thường: “Sau ngày đất nước thống nhất, tôi phục viên với quân hàm thượng sĩ. Mấy lần được đề nghị cấp trên phong quân hàm vượt cấp, nhưng chiến trường ác liệt, mọi thủ tục đề bạt bị thất lạc nên 7 năm liền tôi vẫn đeo thượng sĩ. Biết như rứa là thiệt thòi, nhưng tôi nghĩ mình còn sống trở về đoàn tụ cùng gia đình là hạnh phúc lắm rồi. Hồi đó Phú Lộc quê tôi là một xã miền núi nghèo nhất nhì huyện Can Lộc. Mấy năm đầu còn tham gia công tác đoàn thể, nhưng rồi vết thương cũ tái phát, bệnh tình triền miên, nhiều hôm lên cơn co giật tưởng không qua khỏi, thế là tôi nghỉ hẳn. Thời gian này, một mình bà xã vừa dạy học ở trường làng, vừa lo mấy sào ruộng khoán. Vợ tôi làm quần quật suốt ngày đêm mà vẫn không đủ ăn. Rồi lần lượt 7 đứa con ra đời (6 gái, một trai), nhưng chẳng hiểu sao khi mới ra đời, các cháu đều lành lặn, khỏe mạnh, nhưng một thời gian sau thì đổ bệnh. Cháu trai sinh ra được 3 năm mới biết nói, cười, bây giờ chân tay khẳng khiu, đầu óc thiếu minh mẫn. Còn 4 cháu gái đều bị thương tật, đau ốm liên miên. Đồng lương hưu ít ỏi của bà xã cộng với tiền thương tật của tôi không đủ để mua thuốc chữa bệnh cho các cháu...”. Nghe ông kể, lúc này chúng tôi mới có dịp quan sát kỹ ngôi nhà dột nát mà vợ chồng ông cùng 7 người con đang tá túc. Ngôi nhà làm từ năm 1950 do ông cha để lại 3 lần bị mảnh bom bi găm vào nham nhở, ông Long đã vài lần vay mượn anh em, nhờ bà con sửa lại nhưng vẫn thấp lè tè. Mùa mưa, nước chảy lênh láng, còn mùa hạ nóng hầm hập. Mọi vật dụng trong nhà chẳng có thứ gì đáng giá ngoài chiếc ti-vi do một người đồng đội cũ mua tặng và chiếc võng dù, cái bi đông đựng nước ông cất giữ từ hồi còn ở chiến trường...
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Ái Lực-Chủ tịch UBND xã Phú Lộc cho biết: “Chính quyền địa phương cũng rất thông cảm với hoàn cảnh gia đình anh Long, nhưng địa phương cũng còn nhiều khó khăn, chỉ giúp đỡ được phần nào. Mới đây đoàn 75, Tổng cục II (Bộ Quốc phòng) đã cử cán bộ vào liên hệ với chính quyền xã để xây dựng nhà tình nghĩa cho gia đình anh Long”.
Khi chúng tôi hỏi ông có nguyện vọng, đề đạt gì không, ông Long chỉ cười hiền: “Tôi mong sao bệnh tình thuyên giảm, sức khỏe khá hơn để sống thêm cùng con cháu và được đến thăm lại đồng đội cũ”. Nhà nghèo, lại ốm đau thương tật, con cái bị tật nguyền, nhưng ông Long sống rất chân tình với bà con làng xóm. Hễ nhà nào có công chuyện là ông gắng sức đến thăm hỏi, động viên. Mùa lụt bão, ông lội nước đến từng nhà động viên con cháu kịp thời khắc phục hậu quả...
Chia tay làng Vĩnh Phú trong chiều hè nhạt nắng, gió từ rú Bụt thổi về mát rượi. Tiễn khách ra tận ngõ, ông Long vui mừng thông báo: “Tui vừa nhận tin, cô con dâu sinh cháu nội tại trạm xá xã”. Nhìn ánh mắt ngấn nước, chúng tôi hiểu ông đang rất hạnh phúc. Vậy là ông đã có cháu nội, con đứa con trai duy nhất của vợ chồng ông. Dẫu có muộn màng, nhưng đó là hạnh phúc...
Bài và ảnh: PHAN TIẾN DŨNG