Tháng 2-1977, một sĩ quan CIA đang hoạt động tại Mát-xcơ-va dưới vỏ bọc nhân viên ngoại giao của Đại sứ quán Mỹ tình cờ phát hiện thấy dưới cái gạt nước trên xe ô tô của mình một mẩu giấy nhỏ. Chủ nhân của mẩu giấy này là một người giấu tên, cho biết, anh ta có thể tiếp cận với những thông tin vô cùng quý giá, có thể làm thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho phía Mỹ, và mong muốn được gặp nhân viên của CIA.

Vài tuần sau, lại tiếp tục xuất hiện một mẩu giấy khác có đính kèm cả bảng mô tả một số chi tiết kĩ thuật của một hệ thống ra-đa Liên Xô. Tuy nhiên, chỉ bấy nhiêu thôi vẫn chưa đủ thuyết phục giới lãnh đạo CIA tin vào sự “chân thành” của người gửi.

Để kiểm chứng mức độ xác thực của thông tin, một chuyên gia tâm lý đã được cử đến nghiên cứu từng dấu hiệu hành vi của người giấu tên này. Song giám đốc CIA lúc đó – Xtan-phin Tơn-nơ có cách nhìn nhận sự việc của riêng mình, bởi ông ta nghi ngờ toàn bộ hành động của con người này là do Lu-bi-an-ka (Cơ quan An ninh Liên bang Liên Xô) “giật dây”. Tơn-nơ cho rằng, tay chân của KGB theo dõi các đại sứ quán của Mỹ và Anh tại Mát-xcơ-va 24/24 giờ, do đó, không thể có kẻ nào ngu xuẩn mà mạo hiểm tiếp xúc trực tiếp với CIA như vậy. Đó chỉ có thể là một điệp viên hoạt động dưới sự chỉ đạo của Ủy ban An ninh quốc gia Liên Xô (KGB) – Tơn-nơ nhận định.

Tôn-ka-xép trên đường đi bán tài liệu cho CIA

Tuy vậy, đại diện của CIA tại Mát-xcơ-va – Gát-nơ Gát Ha-tha-uây không tán thành với quan điểm của cấp trên và cho rằng, những hoài nghi của ông ta là vô căn cứ. Ha-tha-uây cho rằng, những con thú dữ không bao giờ ăn xác súc vật chết, mà chỉ bắt những con vật đang ốm yếu không còn đủ sức chống cự. Những điệp viên tình báo cũng vậy. Và ý nghĩ có thể bỏ qua “con dê vàng” tự đem thân đến nộp mạng này làm ông ta dằn vặt không yên. Ha-tha-uây đã cho thảo một bức điện lấy tên Tơn-nơ và được viết theo đúng giọng điệu của ông ta, trong đó đề nghị cho phép bắt liên lạc với chủ nhân của những mẩu giấy kia theo số điện thoại đã được anh ta ghi sẵn. Và viên giám đốc phải miễn cưỡng chấp thuận.

Qua điện thoại, Ha-tha-uây nói với người ở đầu dây bên kia: “Chúng tôi đã nhận được mẩu giấy của anh và gửi lại cho anh một hộp nhỏ trong buồng điện thoại công cộng ở lối rẽ trái thứ hai trên đường từ cổng vào của Viện Công nghiệp Vô tuyến điện”.

Từ trong ô-tô, các nhân viên CIA quan sát thấy một người đàn ông hơi gầy, ăn mặc tuềnh toàng tiến đến gần buồng điện thoại và lấy chiếc hộp đi. Trong chiếc hộp có tờ giấy ghi một loạt các câu hỏi liên quan đến thiết kế của các ra-đa Liên Xô, hướng dẫn cách gửi lại câu trả lời và kèm theo một số tiền Liên Xô không lớn, tương đương khoảng 500 đô-la Mỹ.

Một tuần sau, người đàn ông gầy gò này lại xuất hiện cùng với câu trả lời được để vào nơi đã quy định. Mọi nghi ngờ về việc anh ta có phải là điệp viên hai mang hay không lập tức bị xóa tan, bởi lẽ những thông tin mà anh ta cung cấp có mức độ quan trọng đến nỗi mà ngay cả CIA cũng có thể khẳng định ngay được rằng KGB không bao giờ dám mạo hiểm mà để lộ chúng.

Ngay lập tức, một nhân viên tình báo Mỹ được cử đi để gặp gỡ với “hội viên tình nguyện” này. Qua lời giới thiệu, người đàn ông này là A-đôn Tôn-ka-xép, một chuyên gia đầu ngành của Liên Xô về các hệ thống đạo hàng hàng không. Từ đó, Tôn-ka-xép bắt đầu làm việc cho CIA với mật danh “Sphere” và thường xuyên liên lạc trực tiếp với Ha-tha-uây trong suốt 8 năm.

Không thể nói hết được tầm ý nghĩa và giá trị của những thông tin mà Mỹ thu được từ việc hợp tác bất ngờ và “béo bở” này. Tôn-ka-xép đã cung cấp cho người Mỹ những số liệu cụ thể về các hệ thống điều khiển điện tử và hệ thống tự bảo vệ được sử dụng trên các máy bay tiêm kích MIG của Liên Xô nhằm tránh sự phát hiện của máy bay và ra-đa Mỹ.

Về phía Liên Xô, trong một bản báo cáo gửi về Mát-xcơ-va, An-đrích Êm – một siêu điệp viên của Cơ quan An ninh Liên bang (Liên Xô) đã lọt vào hàng ngũ quan chức cấp cao của CIA cho biết, Tôn-ka-xép đã tiết lộ cho Mỹ những bí mật về kĩ thuật điện tử vô tuyến hàng không của Liên Xô, giúp bù đắp một khoản ngân sách khổng lồ cho Mỹ. Theo Êm, nếu chiến tranh thế giới nổ ra thì việc NATO giành ưu thế trên không là điều không phải bàn cãi.

Trên thực tế, Mỹ còn “chia sẻ” những bí mật thu được với người đồng minh thân cận của mình ở khu vực Trung Đông là I-xra-en. Do vậy, lực lượng không quân của Ả-rập, với 99% số máy bay được bổ sung là do Liên Xô sản xuất, đã bộc lộ rất nhiều hạn chế trước các phương tiện phòng không của quân đội nhà nước Do Thái.

Như vậy, cái giá của sự phản bội mang lại là hoàn toàn trái ngược nhau nếu nhìn từ hai phía đối lập. Trong lịch sử, chưa khi nào nước Mỹ lại có được một điệp viên sinh lời như vậy: Lợi nhuận thu được từ “liên doanh CIA-Sphere” lên tới gần 20 tỷ USD, so với mức lạm phát vào thời điểm hiện tại thì khoản tiền đó tương đương 100 tỷ USD hiện nay. Ngược lại, phía Liên Xô phải chịu thiệt hại to lớn do nhiều hợp đồng cung cấp các phương tiện vũ khí phòng không, không quân trị giá nhiều tỷ USD cho các nước Ả-rập đã bị hủy bỏ.

Phát hiện và giải pháp

Ngay sau khi nhận được tin từ An-đrích Êm, cơ quan phản gián Xô-viết đã tiến hành điều tra một cách tỉ mỉ để làm sáng tỏ những công trình và dự án khoa học mà Tôn-ka-xép trực tiếp tham gia, đồng thời qua thẩm tra những loại tài liệu chuyên môn mà hắn thường đặt mua ở thư viện mật của Viện nghiên cứu khoa học về công nghiệp vô tuyến điện toán Xô-viết để xác định Tôn-ka-xép còn quan tâm đến những lĩnh vực nào khác ngoài chuyên môn. Kết quả điều tra cho thấy, kẻ gián điệp này thường xuyên tiếp cận với những tài liệu chứa bí mật quân sự và bí mật quốc gia của Liên Xô. Và số tài liệu có đóng dấu “Tuyệt mật” mà trong suốt khoảng thời gian 7 năm qua, Tôn-ka-xép đã chuyển cho Mỹ vẫn đang là một câu hỏi lớn làm đau đầu các chuyên gia phản gián Xô-viết. Những ý tưởng, những bản thảo gốc bị hắn đánh cắp giờ đây đã ở bên kia đại dương và rất có thể đang được đối phương nghiên cứu chế tạo trong các phòng thí nghiệm mật nào đó.

Những thành quả vô giá được tạo nên từ công sức của các nhà khoa học Liên Xô, phút chốc lọt vào tay người Mỹ một cách dễ dàng. Trong tình thế này, những quyết định sáng suốt là vô cùng cần thiết, và giới lãnh đạo Liên Xô đã ra sắc lệnh “Lập kế hoạch hành động để vô hiệu hóa hoặc hạn chế đến mức tối thiểu những thiệt hại có thể xảy ra”. Khi đó, những bộ não đầy kinh nghiệm tại Lu-bi-an-ka bắt đầu hồi tưởng về một chiến dịch đã thực hiện trước đây…

Trò chơi lớn

Không thể chấp nhận bàn thua dễ dàng như vậy, bằng những kinh nghiệm có được qua nhiều chiến dịch, trung tâm đầu não Lu-bi-an-ka đi đến quyết định mở cuộc tấn công đồng thời trên nhiều hướng.

Kế hoạch đầu tiên cần thực hiện là biến Tôn-ka-xép thành một kênh chuyên cung cấp những thông tin đầy “hấp dẫn” cho đối phương, nhưng thực chất đó chỉ là những ý tưởng hay bản thảo không thể nào đi đến đích nhằm đánh lạc hướng đối phương. Qua đó, có thể khống chế các nghiên cứu khoa học mà người Mỹ đang tiến hành, biến chúng thành những “công trình vô dụng”, và buộc đối phương phải tiêu tốn cơ sở vật chất cũng như tiềm năng khoa học để nghiên cứu lại.

Khi lên kế hoạch sử dụng “Sphere” để phục vụ mục đích của mình, những chuyên gia lão luyện tại KGB nhận định, tên “đầy tớ” này đã nhiều năm phục vụ trung thành và chiếm được lòng tin tuyệt đối từ “người chủ” ở phía bên kia bờ đại dương, và bấy lâu nay người chủ đó đã quen với việc tiếp nhận từ hắn những “của ngon vật lạ” là những thông tin khoa học vô giá của Liên Xô. Vì vậy, theo thói quen, người chủ này cũng sẽ dễ dàng tiếp nhận cả những thứ do “đầu bếp KGB” chuẩn bị mà không mảy may suy nghĩ…

Qua nghiên cứu danh mục các tài liệu mà Tôn-ka-xép đặt mua tại Thư viện mật thuộc Viện nghiên cứu khoa học công nghiệp vô tuyến điện, các chuyên gia phản gián còn phát hiện thấy rằng, kể từ năm 1981 hắn đặc biệt quan tâm đến công nghệ chế tạo máy bay ném bom tàng hình của Liên Xô. Về lĩnh vực này, công nghệ của Liên Xô vượt xa Mỹ. Trong khoảng thời gian đó, phía Mỹ cũng đang nghiên cứu chế tạo loại máy bay Stells với tính năng tương tự những máy bay tàng hình của Liên Xô. Như vậy, đối với Mỹ, những thông tin mà “Sphere” cung cấp chẳng khác nào “món quà từ trên trời rơi xuống”.

Trong suốt mười tháng sau, Tôn-ka-xép liên tục gửi cho Mỹ những số liệu về công nghệ tàng hình mà hắn tìm được tại thư viện mật. Những số liệu này đã được các chuyên gia KGB chuẩn bị một cách kỹ lưỡng với mục đích gây rối loạn và phá vỡ các công trình nghiên cứu của Mỹ từ bên trong. Và kết quả đã diễn ra đúng như mong muốn, dự án “Stells” của Mỹ đã bị chậm tiến độ và phải mất một thời gian lâu sau mới hoàn thành, trong khi đó, phía Mỹ đã phải chi phí một khoản lớn cho các tổ hợp công nghiệp quốc phòng. Song điều đáng nói ở đây là nhờ sự nỗ lực của các chuyên gia phản gián Xô-viết, phiên bản máy bay tàng hình mới nhất do Mỹ chế tạo đã không thể trở thành mối đe dọa thực sự đối với Liên Xô. Trên thực tế, chiếc Stells chỉ có khả năng “tàng hình” đối với các hệ thống phòng không của Mỹ mà thôi, trong khi đó, để chế tạo ra nó, Mỹ đã tiêu tốn hết gần 30 tỷ USD…

Các nhân viên KGB tóm gọn Tôn-ka-xép.

Mục đích của Mát-xcơ-va khi thực hiện kế hoạch tình báo này không nhằm buộc người Mỹ phải từ bỏ chương trình chế tạo máy bay tàng hình, mà cái đích cần đạt đến ở đây là làm sao để loại máy bay do Mỹ sản xuất ra trở thành “con mồi” đối với các hệ thống phòng không Liên Xô. Để đạt được điều đó, KGB cần đến một trợ thủ đắc lực là Tôn-ka-xép để đưa những số liệu theo chủ ý vào thiết kế của loại máy bay này. Mọi công việc còn lại là do nhân tố con người quyết định. Về phía Mỹ, công ty chịu trách nhiệm thực hiện dự án “Stells” là Tập đoàn “Nortrop”. Vì muốn nhanh chóng hoàn thành chương trình do sự đốc thúc của chính phủ, Nortrop đã sao chép một cách máy móc toàn bộ công nghệ chế tạo do “Sphere” cung cấp mà không một chút nghi ngờ. Do đó, Mỹ đã mất gần 8 năm để nghiên cứu điều chỉnh những số liệu nhận được, và mãi đến năm 1991, chiếc Stells đầu tiên mới được đưa vào sử dụng trong chiến dịch “Bão táp sa mạc” tại I-rắc.

Trừng phạt

Đã đến lúc “con mồi” không còn giá trị lợi dụng. Theo báo cáo của Phó đội trưởng Đội đặc nhiệm Alpha – Vla-đi-mia Giai-xép, “đối tượng” thường đi nghỉ cuối tuần với gia đình ở nhà nghỉ và lần nào trở về cũng trong trạng thái say xỉn, vì vậy, vào chiều chủ nhật, vợ hắn phải lái ô tô chở hắn về Mát-xcơ-va. Kế hoạch bắt giữ đã được sắp sẵn. Hai chiến sĩ đặc nhiệm cải trang thành cảnh sát giao thông đứng chặn trên đường dẫn đến nhà nghỉ, một người làm ra vẻ đang kiểm tra giấy tờ của một xe tải đỗ gần đó, người còn lại ra hiệu yêu cầu dừng chiếc xe từ nhà nghỉ đi ra. Khi chiếc xe vừa dừng lại, ngay lập tức, các chiến sĩ đặc nhiệm khác từ thùng xe tải xuất hiện, bao vây và bắt giữ Tôn-ka-xép. Tại cơ quan điều tra, hắn đã thú nhận tất cả.

Với tội danh phản bội Tổ quốc gây hậu quả nghiêm trọng, Tòa án tối cao Liên Xô đã tuyên phạt A.Tôn-ka-xép mức án cao nhất.

Cuộc đời của A.Tôn-ka-xép được ít người biết đến, ngay cả chân dung của con người này cũng không được công bố rộng rãi.

VŨ HÙNG (Theo Bình luận quân sự độc lập - Nga)