Tôi gặp ông Chính ở xã Đại Lãnh, Đại Lộc, Quảng Nam - quê ông lúc ông vừa họp Ban liên lạc bạn chiến đấu chống Mỹ ở huyện Đại Lộc xong. Dáng ông sừng sững như cây chuối hột, nét mặt quắc thước. Mặc dù đã biết ông sinh năm Giáp Tuất – 1934, nhưng tôi cảm thấy ông chỉ hơi già hơn các bác đại tá vừa mới nhận sổ hưu một chút. “Đã ba mươi tư năm giải phóng mà một số đồng đội còn nghèo khó quá. Phải làm thế nào đây để người chiến thắng không thể đói nghèo! Cũng phải biết tự lực cánh sinh!…”. Ông nói vậy. Bản thân ông đã từng làm như thế.
Từ một “con nhà nghèo rớt mùng tơi”, ông Nguyễn Trung Chính tham gia cách mạng năm 1960. Năm 1962 đến 1968, ông làm Chủ tịch kiêm Bí thư chi bộ xã Đại Lãnh. Tiếp đó ông liên tục là huyện ủy viên Đại Lộc, lần lượt qua các chức vụ: Trưởng ban Dân vận, Chính trị viên trưởng huyện đội Đại Lộc, huyện đội trưởng. Từ năm 1984 đến năm 1986, ông làm Phó ban Dân quân Bộ Chỉ huy quân sự Quảng Nam – Đà Nẵng. Năm 1986, trở về đời thường với quân hàm thiếu tá, ông bước vào… mặt trận mới.
Trước khi nhận sổ hưu, ông chỉ có cái giường nằm và 3 bao xi măng là đáng tiền. Thấy đồng đội khó khăn, ông tặng luôn. Nỗi lo trước tiên của ông là phải tạo được cơ sở vật chất ban đầu để dựa vào đó tiến lên. Ông xin giấy của cơ quan lâm nghiệp huyện, vào rừng khai thác tre nứa vừa đủ dựng căn nhà tạm 30m2, mái lợp tôn, vách nứa trát mùn cỏ trộn cứt trâu. Từ cái chỗ để cả nhà chui ra, chui vào ấy, ông vay vốn, tổ chức cho vợ con chăn nuôi 30 con bò, bán lấy tiền làm một căn nhà kiên cố. Ông còn nhận 2ha đất của hợp tác xã nông nghiệp, trồng mía. Do làm đúng kỹ thuật, sản lượng mía cao gấp đôi bình thường, ông mang chế biến thành đường phên, lãi 5 cây vàng.
Đón Xuân 1987, ông mở cuốn nhật ký riêng, khai bút: “Mừng Đinh Mão Tám bảy đi kinh tế mới/ Đón Canh Thìn Hai nghìn trở lại sông Hàn”. Ăn Tết xong, ông xốc ba lô, mang 3 chỉ vàng đi Tây Nguyên. Một người can: “Anh nguyên là huyện đội trưởng có lương hưu, sao lại tha phương cầu thực thế?”. Ông trừng mắt: “Người chiến thắng không bao giờ đi ăn xin. Tôi đi kinh tế mới, đi làm giàu!”. Tại huyện Ngọc Hồi (khu vực Ngã ba Đông Dương), ông nhận định tình hình rồi tiến hành gấp 3 việc: Chuyển sinh hoạt Đảng tạm thời vào đây; khai hoang cộng với mua cho đủ 3ha đất để “trồng sắn, hướng tới tương lai!” và lập Ban liên lạc đồng hương Quảng Nam – Đà Nẵng nhằm giúp nhau làm ăn, xóa đói nghèo.
Những mùa sắn trôi qua với biết bao niềm vui và hy vọng. Cho tới một hôm ầm ầm nhân lực, xe máy nổ sình sịch vang động một vùng. Những người thợ hối hả nối dài Đường Hồ Chí Minh, chạy qua khu đất của ông Chính. “Ruộng sắn ông Chính” dần dần trở thành khu giao dịch mỗi ngày thêm sầm uất...
Xuân Canh Thìn Hai nghìn đến. Ngày về với sông Hàn đã điểm. Ông gọi con trai cả lên, giao nhiệm vụ giữ 2/3 mảnh đất ấy mà làm ăn. Phần còn lại ông bán đi, mang tiền gửi tiết kiệm để phòng thân vợ chồng già, lúc gặp việc, sẵn có đấy mà chi dùng.
Bạn bè bảo, ông Chính sành ăn lại giỏi nấu nướng. Ai đã ăn cháo ông nấu từ cá Leo, gạo nếp, đỗ xanh, rau thì là và nước dừa thì “quên đường về”. Ấy là vì ông chịu khó học cách chế biến các món ăn sao cho thật ngon để khi có khách thì ông tiếp họ. Theo ông, như thế mới quý, vì vừa ăn sạch, vừa hợp khẩu vị mà lại không mất tiền mua chỗ ngồi. Bạn bè cũng bảo, ông là người không chỉ giỏi tính toán làm ăn lớn mà còn luôn luôn biết cách làm ra tiền từ những việc nhỏ như nuôi ếch, thỏ; trồng hoa, cổ thụ cảnh… Họ kể chuyện cái lần ông đi khảo sát tình hình để chuẩn bị cho “chiến lược” kinh tế mới. Lúc quay về, nhẵn túi, ông xin nhổ sắn thuê lấy tiền. Nhìn cánh thanh niên, ba chàng xúm vào mới lôi được một khóm sắn tua tủa củ lên khỏi mặt đất, ông lẳng lặng mang chiếc đồng hồ đeo tay vào làng đặt cọc thợ rèn làm một cái xà beng… Đưa lưỡi xà beng vào giữa gốc chùm rễ cây sắn, ông nắm đằng chuôi, dé chân chèo, rung nhẹ từng nhịp, theo nguyên tắc đòn bẩy... Các chị, các cô đi theo ông để lượm củ sắn cho vào bao, mải nhìn ông làm, có người để sót sắn, bị chủ la hét om sòm. Nhổ sắn thuê đúng 2 tiếng đồng hồ, tính ra, tiền công đủ để đi đường về nhà, còn cái xà beng, bán lại cho cánh thợ nhổ sắn... Xong xuôi, ông đeo đồng hồ, vừa đạp xe vừa hát: “Đời chúng ta, đâu có giặc - (ông giơ ngón tay cái lên trời, nói nhấn mạnh) kể cả giặc đói, giặc nghèo… là ta cứ đi”.
Do quyết chí xóa nghèo, chăm chỉ lao động, chi tiêu hợp lý, tiết kiệm... nên lúc nào ông Chính cũng ung dung tự tại. Lo chỗ ở cho 3 đứa con xong, ông dựng một ngôi nhà “đặc biệt” trên đất ở, gần tượng đài Chiến thắng Thượng Đức. Nó nhỏ nhắn nhưng chắc chắn, xinh xinh. Tại đó, ông đặt bàn thờ bố mẹ và hai em. Ông ở đấy, tăng gia, định kỳ gặp gỡ đồng đội. Rau quả xanh tốt mùa nào thức ấy, tiền lương hưu vẫn tháng tháng đưa vào sổ tiết kiệm...
Là Trưởng ban liên lạc bạn chiến đấu thời chống Mỹ ở huyện đội Đại Lộc, ông Chính rất chú ý động viên anh chị em nỗ lực vươn lên xây dựng cuộc sống ấm no. Ông nói với mọi người “Còn chút sức lực nào thì cố gắng làm ra của cải”. Ông phê phán tư tưởng cầu an, ỷ lại và thường lấy những tấm gương năng động, sáng tạo trong làm ăn, giàu nghị lực trong cuộc sống, như các cặp vợ chồng thương binh: Năm-Hòa, Diêu-Sơn, Công-Tuyên v.v.. để khích lệ các anh em khác…
Bài và ảnh: PHẠM XƯỞNG