Đôi mắt sáng, gương mặt cương nghị, mái tóc mỏng như những sợi tơ trời nhuốm sương trên vầng trán rộng, cách nói chuyện nhẹ nhàng... Đoàn Công Tính, cựu phóng viên nhiếp ảnh báo Quân đội nhân dân, khiến người mới gặp lần đầu có ý nghĩ ông là một nhà giáo hay một người làm công tác nghiên cứu khoa học. Vậy nhưng ẩn sau vẻ thanh thoát, nho nhã ấy là một trái tim, một tâm hồn lúc nào cũng hừng hực khí thế, hừng hực “lửa”. Cái “lửa” trong Đoàn Công Tính là “lửa” chiến trường, “lửa” của một người lính trận thực thụ.
Mặc dù đã rời quân ngũ hơn 30 năm, nhưng Đoàn Công Tính vẫn vẹn nguyên chất lính. Ở tuổi ngoài lục tuần, ông vẫn sáng tác rất khỏe và tâm huyết với đề tài người lính. Từ miền biên giới đến hải đảo xa xôi, đều đã từng in dấu chân ông. Sau mỗi chuyến đi như vậy, Đoàn Công Tính lại “trình làng” những tác phẩm ảnh có giá trị. Mới đây, Đoàn Công Tính đã khiến các đồng nghiệp, nhất là những người trẻ tuổi ngạc nhiên, thán phục, khi ông tổ chức một cuộc triển lãm ảnh cá nhân chuyên đề về Trường Sa. Đó là kết quả của những chuyến đi cùng các đoàn cán bộ ra thăm, tặng quà bộ đội ở đảo. Trường Sa và người lính Trường Sa là một đề tài rất quen thuộc của văn học, nghệ thuật và báo chí. Tìm được những góc nhìn riêng để giới thiệu với công chúng những tác phẩm mới, không rơi vào lối mòn là một thử thách không dễ vượt qua của người sáng tác, nhất là với nghệ thuật nhiếp ảnh. Đoàn Công Tính đã vượt qua được thử thách này để có một bộ ảnh về Trường Sa mang dấu ấn riêng. Với sự nhạy cảm và óc quan sát tinh tế, ông chú ý khai thác vẻ đẹp nội tâm của người lính đảo bằng những góc nhìn gần trong đời sống, sinh hoạt thường nhật. Ảnh Đoàn Công Tính không lệ thuộc vào sự sắp đặt hoặc kỹ xảo, mà là sự thăng hoa của những khoảnh khắc tự nhiên. Đó chính là sự thể hiện tài năng của ông…
- Tôi có cảm tưởng bức ảnh “Nụ hôn gửi lại Trường Sa”, vẫn đậm chất lính như “Nụ cười chiến thắng dưới chân Thành Cổ”, nhất là sự lột tả nụ cười của người chiến sĩ, dù hai bức ảnh mang hai chủ đề khác nhau, ở những hoàn cảnh hoàn toàn khác nhau. Có vẻ như dấu ấn Thành Cổ Quảng Trị một thời lửa khói vẫn còn sâu nặng trong ông?
- Có lẽ đó chỉ là ngẫu nhiên và do sự cảm nhận của mỗi người. Còn Thành Cổ ư, tôi đã coi đó là quê hương thứ hai của mình rồi. Năm nào tôi cũng có vài ba lần trở lại Thành Cổ. Những năm gần đây, tôi có được những niềm hạnh phúc lớn lao khi đã gặp lại được nhiều nhân vật trong ảnh. Mỗi người mang một số phận, một hoàn cảnh riêng, nhưng khi gặp nhau và nhắc đến ký ức Thành Cổ là tất cả lại ôm chầm lấy nhau, cứ như vừa rời chiến hào khói lửa vậy.
- Nghe nói, có những lần trở lại Thành Cổ, ông nằm đất, phơi sương suốt đêm…
- À! Đó là lần mới đây nhất, hồi tháng ba. Tôi ra Quảng Trị cùng với Lê Bá Dương. Sau khi đi thả hoa trên các tuyến sông tưởng nhớ đồng đội đã hy sinh, tôi và Dương bảo nhau: “Đêm nay chúng ta đừng nghỉ khách sạn nữa. Mình nằm lại đây với anh em một đêm”. Thế là chúng tôi chọn một bãi cỏ, gối đầu lên cánh tay, cùng hát và đọc thơ, cứ như là đang vui văn nghệ với đồng đội vậy, mặc cho sương đêm giá buốt. Mấy cô nhân viên khách sạn thấy hai ông già bỏ khách sạn đi “nằm đất, ăn sương”, lại tưởng là hai ông này “có vấn đề” nên cứ nằng nặc mời hai bác về phòng nghỉ. Khi nghe chúng tôi nói rõ ngọn ngành, các cô xúc động lắm. Thế rồi chẳng hiểu sao thông tin về hai người lính Thành Cổ nằm đất để tưởng nhớ đồng đội lan truyền ra ngoài. Những cựu chiến binh Thành Cổ biết tin kéo đến. Ban đầu chỉ một vài người, về sau anh chị em đến rất đông. Hôm đó chúng tôi thức trắng đêm, ca hát, ngâm thơ… mừng mừng, tủi tủi, hạnh phúc trào nước mắt. Mọi người đều bảo, đây là đêm giao lưu giữa những người còn sống với đồng đội đã hy sinh năm xưa…
(Đoàn Công Tính là thế-lúc nào cũng nặng lòng với quá khứ. Dù thời gian ông gắn bó với Thành Cổ Quảng Trị trong chiến tranh không nhiều, song những gì ông ghi lại được qua ống kính sau 4 lần vào Thành Cổ trong những thời khắc ác liệt nhất của chiến trường, đã trở thành những tư liệu vô giá (ông đã tuyển chọn, xuất bản cuốn sách ảnh mang tên “Khoảnh khắc”). Một nhà văn đã ví, Đoàn Công Tính là người chép sử Thành Cổ bằng nhiếp ảnh. Vậy nhưng ông vẫn cho rằng, mình còn nợ đồng đội quá nhiều. Sự trân trọng quá khứ ở Đoàn Công Tính không phải bây giờ mới có, mà ngay từ khi ông còn là một phóng viên-chiến sĩ, vừa cầm máy ảnh, vừa cầm súng. Những bức ảnh về đồng đội được ông lưu giữ như những “báu vật”).
- Làm cách nào mà ông giữ gìn được những cuộn phim quan trọng ấy trong điều kiện chiến tranh ác liệt?
- Khi chụp ảnh ở chiến trường, ngoài những tấm ảnh đăng báo phục vụ công tác tuyên truyền, tôi nghĩ, mình giữ lại những cuộn phim này để sau này đồng đội cần thì tặng lại. Nếu có ai đã ngã xuống thì cũng có những bức ảnh để lại cho gia đình, người thân. Vì thế nên đi đâu tôi cũng mang theo. Cũng có nhiều cuộn phim đã bị thất lạc và hư hỏng. Chiến tranh mà…
- Hồi đó, ông có nghĩ rằng, sẽ có ngày những bức ảnh ấy làm ông nổi tiếng?
- Khi ra trận, tôi chỉ nghĩ, làm cách nào để ghi lại được những bức ảnh sinh động nhất về chiến trường, lột tả được chân dung, khí phách của người chiến sĩ trong chiến đấu, bởi nếu không làm được như vậy là mình có lỗi với đồng đội. Thời kỳ đó khí thế ra trận sục sôi lắm. Cả tòa soạn báo Quân đội nhân dân cũng giống như một đơn vị nơi tuyến đầu, mà mỗi phóng viên là một chiến sĩ. Trước khi lên đường, tôi gặp các phóng viên đi trước như: Nguyễn Đình Ưu, Triệu Hùng, Công Bằng, Bùi Duy Ly… hỏi các anh về kinh nghiệm chụp ảnh chiến trường. Trong bối cảnh đạn bom khốc liệt, mọi thứ chỉ diễn ra trong những khoảnh khắc chớp nhoáng, mình phải dũng cảm và có phương pháp tiếp cận thì mới ghi lại được…
(Cách mà Đoàn Công Tính áp dụng, đó là phải lao lên tuyến đầu, xông thẳng vào khói lửa, đạn bom, vừa chiến đấu, vừa chụp ảnh. Bức ảnh “Chiếm căn cứ Đầu Mầu” là một trong những tác phẩm ảnh đỉnh cao của Đoàn Công Tính thể hiện sinh động điều này. Lần đó Đoàn Công Tính được phân công đi cùng một đại đội xe tăng, nhưng khi tấn công đánh chiếm căn cứ Đầu Mầu, ông đã rời khỏi xe tăng vượt lên giữa những làn đạn bom để có mặt ở điểm nóng bỏng nhất và ghi lại được những khoảnh khắc ác liệt, lột tả sâu sắc thế trận cuộc chiến và khẳng định tính tất thắng: Bộ đội ta đạp lên xác quân thù mà tiến! Bức ảnh này đã đoạt giải thưởng lớn kèm Huy chương Vàng ảnh báo chí Quốc tế. Những bộ ảnh về Thành Cổ Quảng Trị của ông cũng đã đoạt nhiều giải thưởng có giá trị của Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam và Bộ Quốc phòng. Đỉnh cao ghi nhận sự đóng góp của ông về nhiếp ảnh là Giải thưởng Nhà nước vừa được trao năm 2006…).
- Khi biết mình được Giải thưởng Nhà nước, ông đón nhận tin vui này với tâm trạng như thế nào?
- Giải thưởng là sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước về giá trị tác phẩm của tác giả. Đó là một vinh dự lớn trong đời tôi. Càng vinh dự hơn khi báo Quân đội nhân dân, tờ báo ruột thịt của mình có đến hai phóng viên nhiếp ảnh được trao giải đợt này, đó là ông Vũ Ba và tôi. Trước đó, những cựu phóng viên như Triệu Đại, Nguyễn Đình Ưu, Ngọc Thông… cũng đã được trao giải. Cho đến nay, chưa có tờ báo nào trên toàn quốc có nhiều phóng viên đoạt Giải thưởng Nhà nước như báo Quân đội nhân dân.
- Như vậy, có thể thấy, ngoài dấu ấn cá nhân thì môi trường công tác, ý tôi muốn nói đến vai trò những người quản lý, biên tập của tòa soạn lúc bấy giờ, là rất quan trọng.
- Đúng vậy! Hồi đó tòa soạn mình rèn phóng viên “kinh” lắm. Tôi còn nhớ rất rõ kỷ niệm những ngày đầu được tòa soạn tuyển về làm phóng viên. Ngày đầu tiên anh Bùi Duy Ly gọi tôi lên, đưa cho một cái máy ảnh và một cuộn phim rồi bảo: “Cậu thử chụp xem nào”. Tôi lắp phim rồi đưa máy lên chụp cảnh anh em đang chơi thể thao trước sân. Anh Ly quan sát xong bảo: “Trình độ chụp ảnh của cậu mới ở mức… cầm máy chưa thạo”. Tôi hoảng thực sự. Mình đã chụp ảnh ở đơn vị vài năm, cũng đã có ảnh đăng báo rồi (dĩ nhiên là mình tự mày mò chụp chứ chưa được học hành gì), thế mà… Hiểu được tâm trạng của tôi, anh Ly ân cần khoác vai tôi, tươi cười: “Cậu đừng lo. Tớ sẽ cho cậu đi theo những phóng viên khác một thời gian để cho quen việc. Cậu có năng khiếu, lại giàu nhiệt huyết, mọi việc sẽ tốt đẹp thôi”. Thế là tôi được các anh Phạm Kỉnh, Lê Hưng… kèm cặp. Tôi học hỏi được ở các anh rất nhiều kinh nghiệm. Sau một thời gian đi theo các phóng viên đàn anh, tôi xin tự đi một mình. Có ngày tôi đạp xe đi đến 3 trung đoàn, chụp hàng chục cuộn phim. Hồi đó, việc chọn ảnh đăng trang nhất rất khó. Vậy mà sau một thời gian nỗ lực, tôi liên tục có ảnh đăng trang nhất…
- Sự nghiêm khắc và có phần khắt khe ấy giống như một “liều thuốc thử” đối với phóng viên Đoàn Công Tính?…
- Rất nghiêm khắc trong công việc, nhưng cũng rất cởi mở, tình cảm và trách nhiệm, đó là cách làm việc của những người biên tập. Điều đó tạo cho mình động lực để phấn đấu vươn lên. Tuy nhiên, việc đón nhận và làm quen với sự nghiêm khắc ấy đối với phóng viên trẻ không phải lúc nào cũng dễ dàng…
- Nó đúng trong hoàn cảnh chiến tranh và cả bây giờ cũng vậy…
- Làm báo thì thời nào cũng vậy. Sự khắt khe, công tâm phải là thuộc tính của người biên tập, không thể dễ dãi, xuề xòa được. Còn phóng viên, luôn phải nghĩ rằng mình còn yếu và còn thiếu thì mới bứt phá lên được. Nếu tự thỏa mãn sớm là rất gay. Anh sẽ lặp lại lối mòn và tụt hậu ngay. Trong tác nghiệp, anh phải có cái “máu” nghề nghiệp thực sự…
(Nói về cái “máu” này thì Đoàn Công Tính có thừa. Năm 2001, tôi được điều ra công tác tại Phòng Thư ký Tòa soạn và được ở cạnh ông. Hồi đó ông ra “nghỉ nhờ” tòa soạn để làm cuốn sách ảnh “Khoảnh khắc”. Đêm hôm đó, Hà Nội mưa như trút. Sáng ra, tôi ngủ dậy nhìn sang giường bên cạnh thì không thấy ông đâu. Chăn, màn đã được xếp vuông vắn y như chiến sĩ gấp nội vụ vậy. Ông dậy rất sớm và đi đâu không rõ. Khoảng 9 giờ, Đoàn Công Tính trở về với bộ quần áo ướt sũng, đôi dép rọ bị đứt quai hậu, chiếc máy ảnh gói trong bọc ni lông. Tôi hỏi ông “Trời mưa như thế, sao chú không ngủ, lại đi đâu thế này cho khổ”? Ông cười bảo “Quĩ thời gian của tớ không còn nhiều nữa, ngủ nhiều nó phí đi. Tớ vừa đi chụp ảnh về mưa Hà Nội”. Ba ngày sau, báo Quân đội nhân dân cuối tuần dành một trang giới thiệu phóng sự ảnh “Mưa Hà Nội qua ống kính Đoàn Công Tính” với những bức ảnh thật đẹp dưới những góc nhìn đa chiều. Tôi hết sức ngỡ ngàng. Ảnh về trận mưa gây ngập nước nhiều nơi ở Hà Nội hôm ấy xuất hiện khắp trên các mặt báo, nhưng “Mưa Hà Nội qua ống kính của Đoàn Công Tính” vẫn mang một dáng vẻ rất riêng. Ông không đặc tả những con đường biến thành “sông” như nhiều người khác vẫn làm, mà đi khai thác những nét sinh hoạt của người Hà Nội khi bị ngập nước, qua những khoảnh khắc thật lãng mạn. Ngoài những khoảnh khắc đắt giá chớp được trên chiến trường năm xưa, trong các chuyến đi thực tế sáng tác và cả trong cuộc sống đời thường hôm nay, Đoàn Công Tính luôn có duyên và thành công với những khoảnh khắc như vậy. Có thể nói Đoàn Công Tính là nghệ sĩ của những khoảnh khắc, và chính những khoảnh khắc ấy đã góp phần làm nên tên tuổi của ông…).
- Có lúc nào ông chợt nghĩ mình đã “già” rồi không?
- Trong nghệ thuật, không có khái niệm trẻ hay già mà chỉ có hay hoặc dở, đẹp và xấu, tốt và chưa tốt… thôi.
- Hy vọng sắp tới, ông tiếp tục có những khoảnh khắc bất ngờ…
- (Cười)… ờ… ờ…!
Phan Tùng Sơn (thực hiện)