Sau năm 1972, tờ tin Thiết giáp (của binh chủng Thiết giáp nay là Tăng-Thiết giáp) có chủ trương: Hễ có đoàn hoặc đơn vị nào vào chiến trường thì cố gắng tìm chụp ảnh gia đình cán bộ từ cấp tiểu đoàn trở lên hoặc cán bộ, chiến sĩ đã lập công xuất sắc để gửi đi chiến trường ấy, nhằm động viên và coi như món quà của hậu phương lớn gửi tiền tuyến lớn.
Sau năm 1972, tờ tin Thiết giáp (của binh chủng Thiết giáp nay là Tăng-Thiết giáp) có chủ trương: Hễ có đoàn hoặc đơn vị nào vào chiến trường thì cố gắng tìm chụp ảnh gia đình cán bộ từ cấp tiểu đoàn trở lên hoặc cán bộ, chiến sĩ đã lập công xuất sắc để gửi đi chiến trường ấy, nhằm động viên và coi như món quà của hậu phương lớn gửi tiền tuyến lớn. Đồng thời, qua đó “tăng đất” trong từng số báo khối tin về hậu phương lớn.
Chúng tôi mạnh dạn làm việc này vì hồi đó Tổng cục Chính trị cấp cho các hộp phim quay của điện ảnh có hộp dài 60 mét và 240 mét, để tự sang các cuốn phim chụp 1,6m. Vả lại, các cơ quan của Bộ Tư lệnh nhường và nhiều tờ tin bạn hữu của toàn quân san sẻ, chi viện cơ số phim ít ỏi của mình.
Tháng 9-1973, tôi chọn được mấy địa chỉ để đến. Một sáng, tôi đến nhà đồng chí Lâm Thủ Đô người dân tộc Cao Lan ở một xã vùng cao của tỉnh Vĩnh Phúc. Lâm Thủ Đô là chiến sĩ thi đua của đại đội 1 công binh. Anh làm tiếp phẩm. Có lần anh đi bộ 30km đến trường bắn để bắn đạn thật chỉ nhằm khẳng định mình là lính chiến đấu, không phải là chiến sĩ tiếp phẩm chuyên nghiệp. Lần bắn ấy anh đạt loại giỏi. Gần đứng bóng tôi mới đến đúng nhà Đô. Tôi quyết định chụp bố Đô, ông hơn 60 tuổi nhưng còn khỏe. Hồi đó được chụp ảnh là hiếm lắm, ai cũng thích. Cả nhà và hàng xóm đến tíu tít chuẩn bị quần áo cho ông. Bối cảnh phải có nhà cửa vườn ngõ quen thuộc, nên phải thu dọn quét tước cho sạch sẽ gọn gàng với ngụ ý vắng Đô nhà vẫn như thế. Theo nguyện vọng của gia đình, tôi chụp thêm một kiểu chân dung (để thờ). Ông đã ngồi nghiêm chỉnh, hai tay để trên đầu gối, nhưng nét mặt không vui và nhấp nhổm. Hóa ra ông rất thích mượn chiếc mũ bông để đội chụp ảnh, ông muốn “cho nó thấy bố đàng hoàng” hơn trước.
Dời nhà Lâm Thủ Đô tôi phải đạp mấy chục cây số ra bến phà Mía. Đây là bến phà vượt sông Hồng (bờ bên này là Vĩnh Phúc bờ bên kia là Hà Tây) tiện cho xe tăng hành quân bằng xích vào chiến trường miền Nam. Ở bến phà này có mẹ Nguyễn Thị Mon, hội trưởng Hội Mẹ chiến sĩ của địa phương. Chiến sĩ xe tăng chúng tôi thường chỉ gọi bà là Bà mẹ Bến Mía. Cách bến, cách làng mẹ không xa là địa điểm tập lên xuống và bơi qua sông ban ngày và ban đêm của loại xe tăng lội nước. Những lần có đơn vị về tập, mẹ là người vận động dân thôn cho chúng tôi lá ngụy trang, cử “cánh ba đảm đang” giúp tổ anh nuôi cơm nước ba buổi mỗi ngày. Hội Mẹ chiến sĩ còn “tặng” chúng tôi hàng trăm cân quần áo cũ để làm giẻ lau xe. Và đặc biệt, chính mẹ là người đứng ra thương lượng với người chủ cây tre xòa ra đường mà xe tôi đến tập năm 1970 (trước ngày đơn vị tôi đi chiến trường) đã cuốn vào xích nát tươm và nằn nì đơn vị không kỷ luật chúng tôi. Trước yêu cầu chụp ảnh của tôi, mẹ ủng hộ nhưng cứ đi ra đi vào, vẻ suy nghĩ. Tôi thấy lạ nhưng không dám hỏi. Sau mẹ hỏi một câu làm tôi choáng váng: Con ơi, áo rách có chụp được ảnh không? Mẹ lấy ra chiếc áo cánh sạch sẽ tương đối tươi màu nhưng vạt phải và vai áo bên phải có vết rách nhỏ. Tôi phải dùng cả hai chiếc máy ảnh lắp hai loại phim (phim 21 din thực tế còn chỉ độ 18 din và 27 din còn chỉ độ 25 din) để chụp mới đỡ sợ không hoàn thành nhiệm vụ. Tôi chụp ảnh mẹ ở tư thế nghiêng cho mẹ yên tâm “nhỡ con trai mẹ-hai đứa (không phải ở binh chủng Thiết giáp) nó trông thấy sẽ buồn”-mẹ nói vậy.
LÊ ĐỨC TUÂN