Lời một bài hát ca ngợi bộ đội biên phòng có đoạn: “Chiến sĩ nhân dân biên phòng áo xanh. Mỗi tấc đất rừng già biên giới. Chúng tôi quyết đem xương máu giữ gìn. Ôi đất nước mẹ hiền Tổ quốc! Có chúng tôi canh giữ ngày đêm…”. Thật thiết tha, chân thành và cảm động!
Gần đây, tôi có dịp đến thăm nhiều đồn biên phòng từ Việt Bắc, Tây Bắc đến Tây Nguyên. Trừ những đồn ở gần cửa khẩu quốc gia, quốc tế được đóng gần dân, có người và xe qua lại đông vui; còn lại, hầu hết các đồn ở rừng sâu, núi thẳm, heo hút, rất vắng bóng người. Trên đường công tác, chúng tôi đi theo từng cung tuyến, phải nghỉ lại qua đêm ở một số đồn biên phòng. Một điều khiến tôi ngạc nhiên là đoàn công tác thường có 15-20 người nhưng cứ liên hệ với đồn nào cũng được nhận lời đón tiếp chu đáo. Lần đầu tiên tôi không khỏi băn khoăn về số lượng người đông như vậy, làm sao đồn biên phòng lo đủ chỗ cho mọi người ăn nghỉ. Nhưng khi vào đồn nào, chúng tôi cũng chỉ thấy có mấy cán bộ, chiến sĩ trực làm nhiệm vụ. Hỏi ra mới biết, anh em thường xuyên đi cơ sở, bám dân, bám bản. Phần lớn địa bàn bộ đội biên phòng đóng quân là vùng đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống. Đó cũng là những nơi đặc biệt khó khăn, thiếu thốn đủ bề. Bộ đội biên phòng sống 3 cùng với dân, trở thành thầy giáo, thầy thuốc và cán bộ kỹ thuật nông, lâm nghiệp. Bởi các anh là lực lượng chủ yếu mang cái chữ đến dạy đồng bào, mang thuốc men và dụng cụ y tế đến khám chữa bệnh, hướng dẫn bà con kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, xóa đói, giảm nghèo. Không chỉ giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, cõi bờ của Tổ quốc mà các anh còn giúp dân vùng biên giới xa xôi tiếp cận với đời sống văn minh, hòa nhập cộng đồng.
Nhiệm vụ nặng nề, thiêng liêng là thế nhưng cuộc sống của các chiến sĩ biên phòng còn nhiều gian khổ, khó khăn. Một số đồn chưa có đường đi lại, chưa có điện lưới quốc gia, mỗi ngày chỉ chạy máy phát điện vài ba giờ để phục vụ thông tin liên lạc là chính. Sống xa quê, xa gia đình, 3 cùng với dân bản, có cán bộ, chiến sĩ hàng tháng không biết đến ti-vi, đài, báo. Đó là chưa kể đến những vùng rừng thiêng, nước độc, sốt rét, bệnh tật hoành hành. Tôi nhớ mãi bữa cơm tối tại Đồn Biên phòng 717, xã Ia O, huyện Ia Grai (Gia Lai). Mâm cơm vừa bưng ra, trời đang oi bức, ngột ngạt bỗng nổi mưa rừng, giông gió. Mối và bọ hung bay ra vù vù như rắc trấu. Ai nấy vừa ăn, vừa phải luôn tay nhặt mối rơi đầy vào cơm canh…
Chúng ta tôn vinh bộ đội biên phòng vì những cống hiến lớn lao suốt chặng đường dài nửa thế kỷ qua của họ nhưng chúng ta cũng cần hiểu rõ hơn sự hy sinh thầm lặng, nỗi vất vả, gian truân và sự thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần của họ. Không chỉ nhà nước, quân đội mà mọi tổ chức, đoàn thể, mỗi cá nhân cần cảm thông, chia sẻ với bộ đội biên phòng nơi biên giới đặc biệt khó khăn bằng những việc làm thiết thực, giúp đỡ anh em giảm bớt khó khăn. Có như vậy, bộ đội biên phòng mới đứng vững nơi tuyến đầu, làm trọn chức năng là “
phên giậu” của Tổ quốc và tự hào rằng “
Có chúng tôi canh giữ ngày đêm”. Và như vậy, ngày 3-3 hằng năm mới thực sự mang đầy đủ ý nghĩa “
Ngày biên phòng toàn dân”.
 |
|
Tuần tra vùng cửa biển. Ảnh: Đăng Thanh |
|

|
|
Dừng chân bên suối. Ảnh: Hoài Trung |
|

|
|
Bộ đội Biên phòng phối hợp với công an và dân quân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai tuần tra bảo vệ an ninh biên giới. Ảnh: Hoàng Như Thính |
ĐỨC TOÀN