QĐND - 1. Ngày nhập ngũ, 1-5-1953, Nguyễn Tường Vĩnh chưa tròn mười sáu tuổi. Thương cậu con cầu tự, ông bố nhất quyết không cho đi. Ông bảo: “Thôi con ở nhà học tiếp. Lớn nữa rồi hẵng đi”.
Mẹ Vĩnh nhìn con không nói gì. Khi con gặng hỏi, bà mới bảo: “Thôi thì tùy anh, trời cho sống thì ở đâu cũng sống”. Được mẹ mở đường, Vĩnh xin phép bố, tạm biệt quê hương, vào Trung đoàn Bắc Bắc, Đại đoàn Quân Tiên phong (nay là Trung đoàn 36, Sư đoàn 308).
Thử thách đầu tiên của Vĩnh và đồng đội là chặng hành quân bộ từ Nam Định về Phú Thọ. Huấn luyện chưa được một tháng, đơn vị có lệnh bổ sung ra chiến trường. Ở Điện Biên, Nguyễn Tường Vĩnh trong đội hình C25, tham gia các trận 206, 311b, 106 với nhiệm vụ vận chuyển thương binh. Với vóc dáng cao hơn nhiều đồng đội nên dù nhỏ tuổi Vĩnh hay nhận nhiệm vụ khó khăn. Khi tải thương lên dốc Vĩnh xin đi sau, cố đẩy lên, rồi nâng thật cao cho đồng đội đỡ bị va quệt.
Sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, Nguyễn Tường Vĩnh cùng đơn vị về tiếp quản Thủ đô lúc mới hơn 17 tuổi.
Vĩnh tham gia đánh trận mở màn trong Chiến dịch Đường 9-Nam Lào, vào đầu năm 1971, ở cương vị Tiểu đoàn trưởng. Trận đó, Vĩnh bị thương nặng ở đầu. Đó cũng là trận cuối cùng Nguyễn Tường Vĩnh được trực tiếp chiến đấu bởi vết thương quá nặng. Anh được chuyển ra Hà Nội, trải qua nhiều lần phẫu thuật, bị hôn mê một thời gian, sau mới tỉnh dần nhưng bị liệt một bên chân, giảm thị lực. Ca mổ cho anh trở thành ca mổ điển hình của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 lúc bấy giờ.
2. Gia đình đón thương binh Nguyễn Tường Vĩnh trở về sau những tháng ngày mong mỏi. Bố mẹ anh cứ nhìn thấy con là khóc. Anh lo sợ mình sẽ trở thành gánh nặng cho gia đình nên cố gắng để không tuyệt vọng trong trận chiến mới. Với anh, chiến trường là giường bệnh sực mùi thuốc sát trùng, là phòng mổ chói đèn với tiếng dao kéo loảng xoảng.
Tháng ngày trôi qua. Anh ép mình phải luyện tập để bình phục. Khi đi an dưỡng, anh vẫn tranh thủ làm việc nọ việc kia vì nghĩ mình cần làm việc để không bị ì người. Một lần vô tình “chữa cháy” vì đồng đội đi vắng, Vĩnh thành người nói chuyện chiến trường bất đắc dĩ cho các em học sinh. Được các em cổ vũ nhiệt tình, Vĩnh thấy mình khỏe hơn, hạnh phúc khi thấy mình vẫn còn làm được việc có ích. Và đó cũng là sự khởi đầu cho nghiệp nhà giáo mà sau Vĩnh đã chọn.
 |
Thương binh Nguyễn Tường Vĩnh trò chuyện về thơ cùng vợ.
|
Nhờ sự tận tình của đội ngũ y bác sĩ quân đội, sự động viên của đồng đội, lòng tin của bố mẹ và đặc biệt là sự chăm sóc của người vợ thảo hiền, Nguyễn Tường Vĩnh đã vượt qua tất cả. Anh đã oà khóc khi có thể đứng mà ôm lấy người mẹ đã vượt bảy lần sinh nở mà chỉ có mình anh.
Nhìn sang vợ, Vĩnh lại càng thương. Hoàn cảnh của cô ấy cũng éo le, mẹ đẻ mất sớm, bố đi bước nữa rồi qua đời năm cô mười bảy tuổi. Nguyễn Tường Vĩnh từng nói: “Một mình cô ấy thân gầy, mỏng manh vậy mà là chỗ dựa cho con tôi lớn lên, cho tôi an tâm nơi chiến trận, cho bà mẹ kế an tuổi già. Quê chồng thì xa, tận Nghĩa Hưng, Nghĩa Lâm, Nam Định. Các cụ thân sinh ra tôi thì tuổi cao, thương cháu, lo cho con dâu cũng chẳng giúp được nhiều. Sau này tôi vẫn đùa rằng: Bạn bè lứa tuổi như em/ Có chồng khá giả, chức quyền cao sang/ Riêng em bồng bột vội vàng/ Lấy chàng lính pháo ngang tàng phương xa/ Đảm đang mọi việc tề gia/ Con thơ nuôi dạy, mẹ già chăm nom”.
Sau thời gian điều trị vết thương sọ não, thương binh Nguyễn Tường Vĩnh tiếp tục công tác, trải qua nhiều vị trí tại Trường Bổ túc Thương binh Miền Nam, Vụ Bảo trợ Xã hội, rồi làm Phó hiệu trưởng Trường Cao đẳng Lao động Xã hội. Đến năm 1994, khi vết thương cũ tái phát, anh xin nghỉ hưu... nhưng vẫn tiếp tục giảng dạy đến năm 1997 mới chính thức nhận sổ.
3. Chặng đường mới bắt đầu, ở tuổi hưu, thương binh hạng 1/4 Nguyễn Tường Vĩnh tìm thấy niềm vui, sự lôi cuốn mới trong thơ. Đồng đội cũ vẫn qua chơi luôn, cũng là để “xem cái thằng thương binh sọ não nó làm thơ”-như họ bảo.
Lần đầu gặp, năm 2002, tôi có đặt tên cho ông là “Người về từ Tà Púc” trong một tác phẩm, chừng hơn năm sau đã thấy ông cho ra mắt tập thơ lấy tên đó. Ông có bút danh là Hữu Vinh. Ông giải thích: “Hữu Vinh là Vĩnh về hưu ấy mà!”.
Khi gần 70 tuổi, giữa những cơn đau hành hạ do vết thương tái phát, ông vẫn lãng đãng viết thơ về “Nụ cười”: Giữa dòng xuôi ngược mắt đưa ngang-Một nụ cười tươi đến ngỡ ngàng-Ngược chiều đường phố nên đành lỡ-Ngoảnh lại làm chi để xốn xang. / Ngoảnh lại làm chi để xốn xang-Dáng quen bổi hổi nắng chiều vàng-Hoa cười e ấp tình lưu luyến-Sao chẳng dừng chân để hỏi han?
Mới rồi, với duyên gặp gỡ, qua nhà văn Ngô Thảo, tôi gặp lại thương binh Nguyễn Tường Vĩnh tại phường Ngọc Khánh, Hà Nội. Thật mừng khi thấy ông vẫn còn khá minh mẫn. Ký ức Điện Biên qua lời kể của ông vẫn còn đầy nhiệt huyết, hào sảng. Đã sang tuổi 77, do ảnh hưởng của thương tật, mắt không còn đọc được sách báo nhưng ông Vĩnh vẫn làm thơ. Những ký ức, cảm xúc của ông và đồng đội được tái hiện, lưu giữ lại bằng thơ cùng những dòng văn vần.
Khi kể chuyện truyền thống, đặc biệt trong dịp kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ, ông Vĩnh cũng dẫn thơ, kể bằng lối thơ sao cho người nghe dễ cảm. Như về đám cưới trong hầm Đờ Cát của Trung tướng Cao Văn Khánh và GS, BS Nguyễn Thị Ngọc Toản ông kể theo thể thơ lục bát: Đại đoàn phó Quân Tiên Phong/ Với nữ bác sĩ vốn dòng danh gia/ Mến thương từ lúc tuổi hoa/ Bút nghiên xếp lại, tham gia diệt thù…
Cặm cụi viết thơ, gắng lo các khâu xuất bản, ông Vĩnh đã cho ra mắt 11 tập tặng đồng đội: Một chút duyên thơ, Tiếng gọi thời gian, Tình khúc chiều xuân, Ân tình đồng đội… Lần gặp gần nhất, ông hỏi tôi: Sao mắt tớ bị thủng, suýt mù trong chiến tranh mà cách đây hai tuần cô hàng xóm khám lại bảo không thấy vết nào nữa nhỉ?
Còn tôi cũng muốn hỏi: Sao một người thương binh khuyết sọ nặng lại có trí nhớ tốt và khả năng diễn cảm như vậy? Phải chăng do ông có người vợ với tấm lòng rộng mở, hay nhất là bởi ông đã coi thơ là “thần dược” và ngày ngày vẫn lặng lẽ dưỡng sinh bằng thơ?
Bài và ảnh: QUỲNH LINH