 |
|
Những gương mặt tham gia chống gián điệp, biệt kích năm xưa chụp ảnh lưu niệm cùng lãnh đạo Tổng cục An ninh. |
“Hình như những điệp viên của chúng ta đã bị đón lõng trước khi họ được tung vào miền Bắc. Bất cứ bằng đường không, đường biển, đường bộ...”. Đó là thừa nhận cay đắng của một cựu nhân viên CIA về “cuộc chiến bí mật” từ hơn 40 năm trước, hòng “đánh cộng sản trong lòng cộng sản”. Suốt 13 năm, hàng trăm toán biệt kích với gần 1.000 tên đều bị đón lõng, tóm gọn. Mới đây, tại Sơn La, Tổng cục An ninh (Bộ Công an) đã tổ chức gặp mặt nhân chứng tham gia chống gián điệp, biệt kích ngày ấy. Phóng viên báo Quân đội nhân dân đã gặp riêng nhiều nhân chứng và ghi được những điều ít biết về “cuộc chiến” này.
13 năm bắt 885 tên biệt kích
Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam có một mục từ mang tên: “Vụ Castor”. Hơn 40 năm đã trôi qua, câu chuyện “Vụ Castor” vẫn còn vẹn nguyên trong ký ức ông Nguyễn Sỹ Huynh, 84 tuổi, nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, nguyên Đội phó Đội chống gián điệp, biệt kích…
Đêm 27-5-1961, Mỹ tung toán gián điệp, biệt kích đầu tiên mang tên “Castor” nhảy dù xuống điểm cao 828 thuộc bản Hỳ, xã Phiềng Ban, Phù Yên, Sơn La. Ngay lập tức, trạm cảnh giới Bản Hỳ đã phát hiện tiếng máy bay lạ và liên tục đánh kẻng báo động. Bà con các thôn bản đã khẩn trương tập hợp “đón lõng” máy bay thả biệt kích xuống điểm cao 828. Ngay trong đêm, điểm cao bị bao vây chặt. Sau 4 ngày, toán biệt kích gồm 4 tên do Hà Văn Chấp (dân tộc Thái, thượng sĩ) chỉ huy đã bị bắt cùng toàn bộ vũ khí, điện đài và phương tiện. Qua đấu tranh khai thác, thấy xuất hiện khả năng “dùng địch đánh địch”, Bộ Công an chỉ đạo: mở chuyên án mang bí số PY 27 để tìm hiểu sâu về âm mưu, thủ đoạn hoạt động gián điệp mới của Mỹ-ngụy; thành lập Đội Chống gián điệp, biệt kích gồm những cán bộ dày dạn kinh nghiệm và Trạm thông tin mang bí số A10 có khả năng liên lạc bí mật, an toàn giữa Bộ và các địa phương, kể cả liên lạc với Trung tâm chỉ huy của địch ở Sài Gòn.
Mở đầu chuyên án, đúng 12 giờ trưa ngày 9-6-1961, ta điều khiển và giám sát chặt chẽ tên hiệu thính viên toán “Castor” thực hiện phiên liên lạc đầu tiên, chuyển về trung tâm chỉ huy bản mật điện theo “kịch bản” của ta.
Nhận điện báo của “Castor”, trung tâm chỉ huy địch hí hửng. Bốn ngày sau, chúng đã tiếp tế cho Castor. Ta đã chuẩn bị “đón tiếp” hết sức kỹ lưỡng. Trước giờ hẹn 20 phút, theo đúng quy ước, ta cho đốt hỏa châu và điều khiển tên Hà Văn Chấp liên lạc với phi cơ trưởng chuyến bay. Nhưng sự cố đã xảy ra, chiếc Dacota C47 của địch đến địa phận Ninh Bình đã bị tai nạn: 2 tên bị chết, 8 tên sống sót. Để địch bớt nghi ngờ, ta đã đưa những tên còn sống ra xét xử công khai, thông tin trên báo chí nhưng không hề nhắc đến Castor.
Tuy nhiên, địch vẫn lo lắng Castor bị lộ. Suốt 8 tháng trời, chúng liên tục kiểm tra an ninh của từng toán, từng tên, điều Castor di chuyển liên tục trong rừng rậm núi cao với bán kính 80km, yêu cầu phá hủy các công trình công cộng. Cán bộ, chiến sĩ của ta phải “nhập cuộc” như những tên biệt kích thực thụ, trèo đèo, lội suối, thậm chí phải đào củ mài, hái rau rừng để địch kiểm tra tin mình thật sự… đói khát. Cuối cùng, địch đưa ra một đòi hỏi khá “oái oăm”: phá cầu Tà Vài trên Quốc lộ 6, một cây cầu ở vị trí xung yếu, có thể làm ách tắc giao thông. “Bỏ con săn sắt”, ta đành cho phá cây cầu này để mang lại niềm tin cho địch. Sau đó, Trung tâm địch đã cử người lên kiểm tra kết quả. Với “chiến công” này, “Castor” đã được địch điện báo trao tặng “anh dũng bội tinh hạng nhất” và thưởng cho mỗi tên 40.000 đồng/tháng.
Có cơ sở tin tưởng Castor vẫn an toàn, địch bắt đầu thực hiện các chuyến tiếp tế và tăng cường biệt kích cho Castor. Lần lượt các toán “Gió lốc”, “Coots”, “Perseur”, “Gió lốc 2” và “Verse” đều bị sa lưới. Suốt 13 năm, các chiến sĩ của ta đã “vào vai” và dùng người, phương tiện của địch đập lưng chúng mà Sài Gòn không hề hay biết. Từ năm 1961 đến năm 1973, ta đã đấu tranh thắng lợi 27 chuyên án biệt kích, trong đó có 2/3 số chuyên án trên địa bàn Tây Bắc, đánh đuổi 250 toán biệt kích xâm nhập vào biên giới, bắt và diệt gọn 103 toán gồm 885 tên. Riêng với chuyên án PY27, ta đã câu nhử được 18 lần tiếp tế của địch, thu hàng trăm tấn vũ khí, chất nổ, đạn rốc-két 3,5 và nhiều loại máy móc hiện đại như máy đo chấn động, máy nghe trộm điện thoại, máy phóng đẩy truyền đơn...
Đội quân bí mật, cuộc chiến bí mật
Thật ra, để có vụ “Castor”, người Mỹ đã ráo riết chuẩn bị từ năm 1956. Đã có tới hàng nghìn biệt kích được lựa chọn trong số người dân tộc thiểu số di cư vào Nam từ năm 1954, được CIA và lực lượng đặc biệt Mỹ trực tiếp huấn luyện, trang bị và tung ra phá hoại miền Bắc.
Từ năm 1961, “đội quân đặc biệt” liên tục “xuất kích”. Đầu năm 1964, Tổng thống Mỹ tiếp tục phê chuẩn kế hoạch 34 Anpha. Kể từ đây, cuộc chiến tranh gián điệp, biệt kích đặt dưới sự điều khiển của Bộ chỉ huy quân sự Thái Bình Dương với quy mô ngày càng lớn. Đích thân Tổng thống Ken-nơ-đi đã ký lệnh triển khai “chiến dịch chiến tranh bí mật phá hoại miền Bắc Việt Nam”, sử dụng lực lượng đặc biệt có tên gọi là “Liên đội quan sát số 1” thuộc Sở liên lạc Tổng thống phủ (tình báo trung ương ngụy).
Đại tá Nguyễn Tuấn, nguyên Phó trưởng ty công an Sơn La nhớ lại: Địch chủ yếu xâm nhập bằng đường không, vào sâu trong đất ta, nằm lỳ, thu thập tin tức tình báo, móc nối, xây dựng lực lượng ngầm, sẵn sàng nổi dậy khi có thời cơ, phá hoại các cơ sở kinh tế… Riêng Tây Bắc là địa bàn trọng điểm, xung yếu, địa hình hiểm trở, rừng rậm, núi cao, nhiều hang động, dân cư thưa thớt, tuyến biên giới dài và chằng chịt những lối mòn qua lại đã trở thành “thánh địa” của bọn biệt kích thám báo. Tổng kết của Tổng cục An ninh cho thấy: Có tới 2/3 chuyên án chống biệt kích, gián điệp được thực hiện ở vùng Tây Bắc. Đa số gián điệp, biệt kích đều là người gốc Tây Bắc. Chúng không chỉ thông thạo địa hình mà còn có quan hệ gia đình, thân tộc, rất thuận lợi cho việc ẩn náu và xây dựng cơ sở. Hơn thế nữa, trước khi rút khỏi nước ta, “Cơ quan gián điệp biệt kích hỗn hợp nhảy dù” của Pháp đã huấn luyện và cài lại hàng nghìn tên biệt kích ở các tỉnh miền núi phía Bắc nhằm biến số này thành nòng cốt cho các tổ chức phỉ. Vì vậy, người Mỹ tin rằng: họ sẽ dễ dàng thực hiện âm mưu “đánh cộng sản trong lòng cộng sản”. Nhưng họ đã lầm…
Nước cờ đi trước
Tại sao một lực lượng đặc biệt tinh nhuệ được bộ máy tình báo quân sự thuộc dạng sừng sỏ thế giới huấn luyện mà vẫn thất bại cay đắng? Đi tìm lời giải, mới đây, khi viết cuốn sách Đội quân bí mật, cuộc chiến bí mật, ông Sedg Wick Tuorison, một cựu điệp viên CIA làm việc tại Sài Gòn đã phải chua chát thừa nhận: “Hình như những điệp viên của chúng ta đã bị đón lõng trước khi họ được tung vào miền Bắc. Bất cứ bằng đường không, đường biển, đường bộ, ở nơi hẻo lánh hoặc khu vực dân cư, dù vào ban đêm hay ban ngày, họ luôn được những người trên đất liền chờ đón… Hà Nội còn trên tài cả CIA vì họ đã biết trước kế hoạch của CIA!”.
Nhưng với những người trong cuộc thì chiến thắng đó là tất yếu. Thiếu tướng Nguyễn Trọng Tháp, nguyên Cục trưởng Cục phòng, chống phản động (Bộ Công an) kể lại: Khi ấy, người Mỹ đã hoàn toàn không thể ngờ rằng núi rừng Tây Bắc hiểm trở là vậy mà bất kỳ toán gián điệp nào tới đều được một lực lượng hùng hậu từ công an, công an vũ trang đến bộ đội và nhân dân “chào đón”. Đơn giản vì ta đã đi trước địch một nước cờ. Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có hẳn Chỉ thị số 20/CT - TW về “đối phó toàn diện với âm mưu và hoạt động gián điệp, biệt kích của Mỹ - ngụy”. Công tác phòng, chống gián điệp, biệt kích được triển khai hết sức nhanh chóng, tỉ mỉ. Lực lượng công an khẩn trương điều tra cơ bản, nắm chắc số gia đình có người di cư vào Nam, thuyết phục họ thành tâm cộng tác với chính quyền. Công an phối hợp với bộ đội khảo sát địa hình, xác định trước các điểm cao, hang động có thể biệt kích sẽ nhảy dù hoặc lẩn trốn để lập phương án bao vây, truy lùng. Công tác cảnh giới không phận, biên giới được thực hiện nghiêm ngặt. Bộ đội và công an đóng quân trên địa bàn trực tiếp hướng dẫn cho đồng bào cách thức nhận diện tiếng động cơ máy bay, nhận diện người nghi vấn… Nhiều cuộc diễn tập truy lùng biệt kích đã diễn ra trước khi các vị “khách không mời” tìm đến. Trong chống gián điệp, biệt kích, bộ đội và nhân dân đã góp sức to lớn. Như ở Yên Bái, các vụ bắt gián điệp, biệt kích đều do bộ đội biên phòng, dân quân thực hiện. Có chị phụ nữ đang nấu cơm cũng bắt sống được biệt kích. Xã Thanh Luông có đêm đồng bào tiếp tế tới 1.000 cái bánh chưng, mổ lợn tiếp tế cho bộ đội, công an bắt gián điệp, biệt kích… Núi rừng Tây Bắc những ngày chống gián điệp, biệt kích không ngớt tiếng tù và, tiếng kẻng, tiếng trống, tiếng mõ, hừng hực không khí vào trận. Hiếm có ở một nơi nào trên thế giới, hoạt động phản gián lại chiến thắng nhờ huy động được cả hệ thống chính trị vào cuộc như cuộc chiến chống gián điệp, biệt kích ở Tây Bắc những năm chống Mỹ…
|
Trung tướng Trịnh Lương Hy, quyền Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh: Đây là chiến thắng mang tầm vóc chiến lược, góp phần làm thất bại hoàn toàn âm mưu chiến tranh gián điệp của địch, bảo vệ vững chắc hậu phương để chi viện cho tiền tuyến lớn. Trong lịch sử hoạt động phản gián, hiếm có một cơ quan nào có thể khống chế, điều khiển đối phương tới 13 năm mà vẫn an toàn tuyệt đối. Sự đồng tâm hiệp lực giữa công an, quân đội và nhân dân đã tạo thành “thiên la địa võng” đối với kẻ thù. Đó là bài học quý cần tiếp tục phát huy trong xây dựng thế trận quốc phòng và an ninh toàn dân hiện nay trên địa bàn Tây Bắc. |
Bài và ảnh: NGUYỄN VĂN MINH