 |
|
Vợ chồng chị Nhi trước ngày anh Dưỡng lên chiến khu. |
Ba lần vào tù ra tội, ba lần bị thương nặng, chồng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ nhưng chị nén đau thương tiếp tục chiến đấu, góp phần giải phóng quê hương. Thời bình, chị vẫn là dũng sĩ đấu tranh với đói nghèo, tiêu cực, lạc hậu...
Trong căn gác nhỏ số 81-Phan Thanh (quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng) câu chuyện chị Lê Thị Nhi kể, giúp chúng tôi hiểu thêm cuộc đời người nữ biệt động ấy trong thời kỳ chiến tranh ác liệt: “Năm 17 tuổi tôi đã làm giao liên hoạt động trong lòng địch. Ngày ấy, Mỹ-ngụy điên cuồng khủng bố, đàn áp đồng bào Điện Hòa, Điện Bàn (Quảng Nam) nhưng tôi và các đồng chí trong đội biệt động vẫn kiên trì bám nắm địa bàn, vận động nhân dân đấu tranh chính trị, binh vận và đấu tranh vũ trang”.
Năm 1964, anh Thái Bá Dưỡng (chồng chị) ngã xuống trên chiến trường Hiệp Đức (Quảng Nam). Anh Dưỡng hy sinh để lại người vợ trẻ cùng 3 đứa con thơ dại. Một năm sau đó, cả em trai và em gái lại bị giặc bắt. Chị nén khổ đau, gửi 3 con cho hai bên nội ngoại để tiếp tục hoạt động. Đầu năm 1965, chị Nhi được điều ra Đà Nẵng trực tiếp đứng cánh vùng ven biển Thanh Hà Khê. Với cương vị Bí thư chi bộ A2, chị đề xuất cấp trên thành lập đội biệt động; tuyên truyền, vận động thanh niên tham gia giết giặc trừ gian, tổ chức đánh địch nhỏ lẻ, giác ngộ binh lính địch... 3 lần chị Nhi bị thương nặng, 3 lần bị giặc bắt, tra tấn chết đi sống lại. Trong nhà lao Hội An, kẻ địch dùng mọi cực hình tra tấn hết sức dã man, có khi lại dụ dỗ, mua chuộc bằng vật chất, nhưng chúng không thể nào khuất phục được người nữ biệt động kiên cường. Ra tù, chị được về lại xã Điện Hòa giữ chức Trưởng ban binh vận, kiêm Bí thư chi bộ 1. Chị Nhi cùng đồng đội kiên cường bám trụ, tổ chức nhiều trận đánh lớn, nhỏ, tiêu diệt hàng trăm tên Mỹ và ác ôn, làm cho chúng kinh hoàng khiếp sợ. Đầu năm 1974, khi bị lọt vào ổ phục kích, chị mưu trí tiêu diệt hàng chục tên địch cho đến khi bị thương, được đồng đội kịp thời giải vây. Từ đây, chị chia tay đồng đội và 3 đứa con yêu quý để ra Bắc chữa bệnh, học tập...
Chị với tay lần tìm cuốn an-bum úa vàng, rút ra một tấm ảnh nhỏ trao cho tôi, giọng nghẹn ngào: “Tấm hình này chụp trước lúc anh Dưỡng lên chiến khu Hiệp Đức. Đêm hôm đó, xứ Quảng mưa rả rích, trong ì oàng tiếng pháo địch cầm canh, anh ấy nói với tôi: “Anh đi, hẹn ngày trở lại! Em ráng nuôi con nên người!”. Tôi không ngờ đây là giây phút cuối cùng được sống bên chồng”.
Khẽ quay mặt gạt vội dòng nước mắt, chị Nhi tâm sự: “Ngày về tiếp quản thành phố, tôi vội vàng đi tìm con trong tâm trạng rối bời, chỉ cần chậm một chút nữa thôi là mất đứa con trai tội nghiệp. Tôi gặp cháu Ngọc bơ vơ giữa dòng người chuẩn bị lên tàu tản cư... Dẫu sao tôi còn được sống và trở về gặp lại các con đã là hạnh phúc lắm rồi!”.
Ngày đất nước thống nhất, được cử sang Liên Xô học tập nhưng chị vẫn một mực xin về lại Quảng Nam-Đà Nẵng. Thời bao cấp, khoản tiền trợ cấp thương tật cùng với đồng lương ít ỏi, 4 mẹ con tằn tiện lắm cũng không đủ chi tiêu hằng ngày. Chị bươn chải chạy cơm từng bữa, tất cả tình thương dành hết cho con và cả những mảnh đời bất hạnh. Thành phố sau giải phóng nghèo nàn và lạc hậu, chị nghĩ “người đảng viên tuyên chiến với đói nghèo và tệ nạn xã hội cũng là nhiệm vụ chiến đấu”. Chị đứng ra bảo lãnh cho hàng chục chị em phụ nữ tại các trung tâm phục hồi nhân phẩm trở về địa phương, hướng dẫn và cấp tiền cho họ buôn bán, làm ăn lương thiện. Chị giác ngộ những người chồng vũ phu, đối xử tệ bạc với vợ con; thuyết phục hàng trăm đàn ông trong khối phố tự giác đình sản. Chị còn tranh thủ thời gian đến từng ngõ phố têm trầu cho các mẹ già cô đơn, chải tóc cho trẻ mồ côi, tắm rửa cho người tật nguyền không nơi nương tựa...
Đến cuối năm 1990, chị Nhi về hưu. Chưa kịp nghỉ ngơi thì chị lại được bà con bầu vào đảng ủy phường rồi giữ chức Chủ tịch Hội phụ nữ... Chị chủ động đề xuất cấp ủy, chính quyền địa phương cùng với hội hướng dẫn chị em phát triển kinh tế gia đình; vận động quyên góp xây dựng quỹ hội được 20 triệu đồng, mở 2 lớp học tình thương, làm 3 ngôi nhà tình nghĩa, tặng quần áo, sách vở cho học sinh nghèo hiếu học, trẻ mồ côi... Mấy năm gần đây, chị tham gia Ban chấp hành Hội từ thiện thành phố và giữ chức Chủ tịch Hội tù nhân yêu nước quận Thanh Khê. Ngày ngày, chị cần mẫn đi vận động bà con quyên góp quần áo, sách vở... lặn lội lên tận miền núi Quế Sơn, Trà My tặng quà cho các đối tượng chính sách, đồng bào nghèo dân tộc thiểu số. Mới đây, chị lại cùng bà con đấu tranh với nhóm người tự xưng là “Hội sinh vật cảnh” lấn chiếm bờ hồ Thạc Gián, trả lại sân chơi lành mạnh cho người già và trẻ em...
Bài và ảnh: PHAN TIẾN DŨNG