Chân dung Bác Hồ. Ảnh internet
Dạo ấy, chúng tôi đón cái Tết hân hoan đầy ý nghĩa giữa rừng Lào, bởi những lời ngợi khen chân tình và sâu sắc từ thư của Bác Hồ gửi bộ đội thông tin liên lạc. Cũng không ai biết rằng, đây là bức thư cuối cùng của Người Cha già gửi cho đàn con thân yêu là lực lượng vũ trang nhân dân. Trung đoàn chúng tôi, một đơn vị có nhiệm vụ chuyên xây dựng đường dây thông tin chiến lược của Bộ, nhận lệnh cấp tốc hành quân trở ra để xây dựng đường dây mới, tương đối hiện đại với những hàng cột sắt từ A69 đến A70. Đây là tuyến đường hiểm trở và quan trọng như xương sống của cơ thể miền Trung, đòi hỏi việc thi công phải khẩn trương, kín đáo và kỹ thuật cao, đáp ứng được mọi tình huống liên lạc, đề phòng giặc Mỹ có thể điên cuồng trở lại đánh phá miền Bắc. Đại đội 6 của tôi, trong những ngày này, đang bừng bừng khí thế phấn đấu để giành được danh hiệu cao quý: “Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” của Nhà nước. Lá cờ thưởng luân lưu của Ban chấp hành Trung ương Đảng trao cho quân đội, quân đội trao cho Binh chủng Thông tin. Binh chủng lại trao cho trung đoàn chúng tôi, đơn vị mũi nhọn chịu nhiều gian khổ hy sinh tại chiến trường trong chiến dịch Tổng tấn công Mậu Thân năm 1968. Và đại đội 6 nhận lấy vinh dự phải giữ bằng được lá cờ vẻ vang ấy.

Nhiệm vụ lập tức triển khai. Sau phát súng mở tuyến, chúng tôi vận chuyển bệ xi măng, cột sắt cùng xà gỗ, tích sứ và dây kim loại vào từng cột mốc trên đôi vai của mình. Cứ 4 người khiêng một bệ xi măng, hai người khiêng một cột sắt. Ngày lại ngày dưới trời nắng tháng 5 như thiêu như đốt, chúng tôi cần cù và hối hả vận chuyển vật liệu, lấp dần từng khoảng cột với nỗi niềm đã kết thành ý chí: “Quyết giữ cờ Đảng”.

Điểm cao 409 nằm trong dãy núi trập trùng của huyện Tuyên Hóa-Quảng Bình, nối liền với dải Trường Sơn, là đoạn tuyến cuối cùng của đại đội 6 cũng là đoạn đường hiểm trở nhất. Từ chân lên đỉnh, quãng đường dài 3km ấy lúc chênh vênh bên sườn đồi cháy nắng, lúc hun hút lao xuống vực thẳm, khi vượt lên dựng đứng như bức tường thành. Chiến dịch đột kích điểm cao 409 được phát động vào đúng ngày 19 tháng 5, lấy thành tích thiết thực chào mừng ngày sinh của Bác.

Suốt 4 tiếng đồng hồ, kể từ lúc mở màn trận đột kích, chúng tôi bươn bả giữa nắng cháy với đèo cao. Lần lượt những khối bệ xi măng, những cột sắt cùng bao nhiêu xà gỗ, sứ, dây kín dần các cột mốc. Còn ba khoảng cột nữa mới đến được mốc số 140, cột mốc cuối cùng nằm trên đỉnh đồi 409, đồng chí cùng khiêng cột sắt với Vi Quang Mướng trượt chân ngã trẹo xương bánh chè. Cây cột suýt đè ngang người Mướng. Anh đau đớn nghiến răng trèo trẹo, rồi bình tĩnh quay ngang đầu cột, từ từ đặt xuống. Mướng là một thanh niên khỏe mạnh, người dân tộc Sán Chí tít tận miền Sơn Động, Bắc Giang. Vào bộ đội, anh chưa hề biết chữ. Đại đội cử người tìm sách dạy cho anh học, anh đã học xong chương trình lớp bốn. Ở đại đội, anh em gọi Mướng là “Danh thủ chuyển vận”. Đường dốc không thể gánh, anh buộc 12 thanh xà gỗ làm một bó và gùi đi, trong khi chỉ tiêu đơn vị giao cho mỗi lần chỉ 6 đến 8 xà. 12 xà gỗ trên lưng và một thanh xà dùng thay gậy chống. Chỉ tiêu hai người khiêng một cột sắt, mình anh chuyển 9 cột, vượt quy định 6 cột một ngày. Mướng là người ít nói, hay cười, có nhiều mơ ước. Hôm vượt sông An Châu về huyện lỵ nhập ngũ, được vào bộ đội Binh chủng Thông tin, hành quân qua Thủ đô Hà Nội, anh cứ mong có một ngày được đến Ba Đình ngắm vào nhà Bác… Ngồi nghỉ một lát, biết đội hình vận chuyển của đại đội không thể còn người bổ sung, anh quyết định một mình vác cột, nhích dần lên đỉnh.

Khi chúng tôi cùng chính trị viên đại đội Vũ Đức Thanh khiêng bệ xi măng đến điểm cao 409 thì mặt trời đã lặn vào khe núi. Tiếng reo chiến thắng của anh em chuyền từ đỉnh xuống chân đồi, rồi cứ thế chuyền đi chuyền lại, âm vang như sóng dội vào vách đá. Vi Quang Mướng nằm đó, ngất xỉu bên cây cột sắt, áo quần tơi tả rách bởi đá chém, gai cào. Mướng nằm thiêm thiếp trong vòng tay người cán bộ chính trị đại đội. Trên cây cột sắt còn vương hơi nóng, chúng tôi nhìn thấy tấm ảnh Bác Hồ bằng bàn tay, hẳn đã được cắt ra từ cuốn sổ phần thưởng. Dưới tấm ảnh Bác Hồ đang mỉm cười hồn hậu ấy, một dòng chữ bằng máu được viết từ đầu tăm tre, nét chữ ngả nghiêng, cứng đờ của bàn tay chai sạn. Đó là chữ của người vừa được học, dòng chữ viết rằng “Cháu tên là Mướng, Bác Hồ ơi!”.

Thảo nào đêm qua, cả tiểu đội nhắc nhau ngủ sớm để lấy sức cho ngày thi đua lập công mừng sinh nhật Bác, chúng tôi thấy Mướng cứ lục tục mãi trong màn, dưới ánh đèn dầu tù mù, làm một việc gì đó có vẻ bí mật, mà mãi đến lúc này chúng tôi mới hiểu.

Rồi Mướng tỉnh dậy, cùng chúng tôi đứng lên hướng về phương Bắc. Những người lính áo quần sũng nặng mồ hôi, khuôn mặt đen nhẻm tràn trề nước mắt-ấy là những giọt nước mắt của niềm vui. Chúng tôi muốn thưa cùng Người chút thành tích vừa cùng nhau lập được trong ngày, thầm mong Người luôn luôn mạnh khỏe. Chúng tôi nào có biết rằng, chỉ hơn ba tháng sau, Người không còn nữa. Ngày trung đoàn bàn giao tuyến đường dây quan trọng bên bờ sông Choóc-Quảng Bình để hành quân vào mặt trận, cũng là ngày Bác Hồ vĩnh biệt chúng ta.

Năm tháng qua đi. Nhiều đồng đội của tôi trong đó có Vi Quang Mướng đã ngã xuống ở mặt trận Tây Nguyên, khi các anh được lệnh chuyển về tăng cường cho lực lượng thông tin tỉnh đội. Tấm ảnh Bác Hồ có dòng chữ được viết bằng máu của Mướng được anh em gửi về nhà truyền thống từ buổi chiều đáng nhớ ấy, nay cũng chẳng còn. Riêng kỷ niệm sâu sắc về ngày sinh Bác Hồ lần cuối cùng khi Bác còn sống, nơi điểm cao 409, cửa ngõ chiến trường ngày nào, với người lính đã trở về với đời thường như chúng tôi, vẫn luôn hiển hiện, lặng lẽ bồi hồi, lặng lẽ sáng lên…

ĐẶNG TRƯỜNG LƯU