Đó là mùa xuân năm 1949. Một chiều bên anh, tôi hỏi: trong tập san Mừng Xuân, chuyện Nẩy Mầm của anh, có cậu Sáu, cô Thủy, những nhân vật đó bây giờ ở đâu hở anh?
Nắm chặt tay tôi anh khẽ nói:
- Đó là câu chuyện của mình. Sáu là mình. Và, chiếc áo len mình đang mặc đây cũng chính là của Thủy…
Ngày ấy, anh học trường Pên-lờ-ranh (Pellerin) một trường dòng ở Huế. Vừa tròn 16 tuổi, anh tốt nghiệp tú tài một. Nhân dịp một chuyến về quê, theo cha viếng đình làng. Nơi tôn nghiêm thờ cúng hôm ấy lại xảy ra một sự việc hết sức phũ phàng. Cửa đình mở toang. Các bàn thờ đều lôi ra sân. Trên bàn là những con lợn đang eng éc chờ mổ thịt.
Cha anh sửng sốt nhìn. Mới biết, đó là việc làm thô bỉ của mấy tên lính, do một sĩ quan Pháp điều khiển. Phẫn uất trước hành động đó, cha anh phản đối. Đã không nghe, tên Pháp còn lấy roi đánh đuổi ông. Không thể im lặng được, anh chạy tới chỉ vào mặt tên sĩ quan bằng một tràng tiếng Pháp:
- Ông là người văn minh, hay là một tên dã man ngu xuẩn? Nghe anh nói, tên Pháp trợn mắt:
- Ê con nít! Mầy mắng ai? Nó sấn tới tát vào anh một bạt tai. Với cái tát của tên Pháp to lớn, khiến anh ngã chúi. Nhưng rồi, kịp thời đứng dậy, rút dao con chó, anh nghiến răng đâm thẳng mũi dao vào ngực tên sĩ quan Pháp. Bị cú đâm bất thần, tên Pháp chỉ kịp hét lên một tiếng, rồi lăn quay, máu tuôn như xối, đỏ cả sân đình.
Với tội danh “hành hung gây trọng thương sĩ quan Pháp đang thừa hành công vụ”, mặc dầu còn vị thành niên, anh đã bị Tòa án binh Pháp kết án 6 năm tù giam, đày Lao Bảo.
Thế rồi, từ Huế ra Đông Hà, lên Lao Bảo, áp tải anh là hai lính tập. Núi rừng bạt ngàn vắng vẻ, nhất là đoạn gần Lao Bảo. Dưới nắng hè đổ lửa, hai tên lính dắt anh vào nghỉ ở khu rừng ven đường. Nhìn hai tay anh bị xích chặt, chúng yên chí bẻ lá rải ra nằm nghỉ. Gần hai ngày cuốc bộ quá mệt, vừa nằm xuống chúng ngủ ngay.
Phải chăng đây là thời cơ hiếm có. Anh se sẽ bước ra. Và rồi, cứ thế, nhắm thẳng hướng Tây, chạy. Vừa đói, vừa khát, nhưng đây là con đường sống, anh đâu biết mệt, chạy gần cả buổi chiều.
Trời nhá nhem tối, anh dừng lại. Việc trước mắt là phải giải thoát đôi tay. Bởi tay anh vẫn còn mang nặng chiếc xiềng. Anh xuống suối, vừa uống hơi nước cho tỉnh người, vừa tìm một tảng đá. Anh ngồi mài. Mài mãi, mài mãi, trời ngả về đêm lúc nào không biết. Sau gần 5 tiếng đồng hồ kỳ cạch, chiếc xiềng đứt tung.
Ôi, tự do rồi! Giờ đây đi hay nghỉ? Anh thấy, phải đi càng xa càng tốt. Một thân một mình, đêm trường thanh vắng, mưa rừng lại bắt đầu nặng hạt, quá mệt không còn bước đi được nữa. Trong cảnh rừng khuya mờ mịt, bỗng đâu một ngôi nhà lù lù hiện ra trước mặt. Trước nhà là một mái hiên trống vắng. Anh bước vào tránh mưa, tạm nghỉ. Đến nơi, chưa kịp ngồi, anh thấy mắt hoa đầu choáng, đất trời xoay tít, anh gục ngay trên nền đất…
- Thủy ơi, Thủy ơi! Có đứa nào nằm chết trong hiên nhà ta thế này? Tiếng kêu thất thanh của bà chủ. Nghe tiếng mẹ, Thủy chạy ra nhìn kỹ. Một thiếu niên, áo quần mong manh, mặt mày xám ngắt, ngực còn thoi thóp.
- Mẹ ơi, “nó” còn sống!
- Con mau vào lấy lọ Nhị Thiên Đường ra đây! Trước sự ân cần chăm sóc của mẹ con bà chủ anh dần tỉnh lại. Bà chủ hỏi:
- Cháu ở đâu? Tên gì? Đi đâu mà lại nằm đây? Không dám nói thật, anh đành nói:
- Thưa bà, cháu ở Thừa Thiên, tên là Sáu, cha đi làm xa, nghe nói ở Khe Sanh, Lao Bảo, mấy năm không về. Mẹ bảo, con cố đi tìm. Tìm mãi không thấy! Nghe anh nói, bà chủ tỏ vẻ thương hại.
- Tội nghiệp cho cháu! Thôi cháu hãy tạm nghỉ nhà bác cho lại sức, rồi hãy đi. Thấy bà chủ phúc hậu và cũng không có đường nào khác, anh cúi đầu cảm ơn.
Những ngày ở đây, anh giúp bà quét dọn, gánh nước. Còn Thủy, cô gái thùy mị xinh đẹp của bà, trạc tuổi với anh, là nữ sinh Đồng Khánh về với gia đình những tháng hè.
Một lần gánh nước về, đi ngang qua phòng Thủy, anh nhìn vào, một tấm bảng đen, một phương trình đại số, viết, xóa nhiều mà không tìm ra đáp số. Nhân lúc không có Thủy trong phòng, anh đặt gánh bước vào. Quên mất thân phận mình, xem qua, anh cầm phấn viết ngay, giải luôn bài toán. Anh còn đang say sưa với tuổi học trò, ngờ đâu Thủy lặng lẽ đến, trố mắt nhìn, rồi buột miệng hét lớn:
- Mẹ ơi! Mẹ ơi! Thằng Sáu nó biết “anh rấp” (algèbre), nó giỏi lắm! Tiếng thét của Thủy làm anh giật mình, đánh rơi viên phấn.
- Cháu ơi, mấy ngày rày, bác có ý ngờ. Cháu là ai? Sao thân phận thế này? Nghe những lời thân tình của bà, anh vừa khóc, vừa kể rõ sự tình.
Nghe anh kể, bà chủ xúc động thở dài. Thủy nhìn anh thương hại.
- Cháu ơi, mẹ con bác hết sức thông cảm, thương hoàn cảnh cháu! Nhưng… phút giây im lặng, bà tiếp: “Mấy ngày nay, ông nhà bác đi vắng. Ông phụ trách kiểm lâm. Nơi đây, các sếp Tây thường qua lại, không tiện cho cháu. Chi bằng, bác giúp cháu ít tiền, quần áo để cháu đi. Nhờ ơn Trời Phật phù hộ, bác cháu ta rồi cũng có ngày tái ngộ.
Ngậm ngùi chia tay với mẹ con bà chủ. Ngoài món quà quý báu của bà, còn có chiếc áo len cùng lời nói thân tình của Thủy “Anh Sáu ơi đừng quên nhé”.
Chúng tôi biết anh trong ngày Lễ thành lập Tiểu đoàn 39. Đó là ngày 15-3-1948, cả tiểu đoàn trong đội hình đồng diễn. Đẹp làm sao những khối hình được sắp xếp một cách khéo léo, biến hóa một cách linh hoạt theo tiếng còi điều khiển nhịp nhàng của một người chỉ huy còn rất trẻ, chính là anh. Lúc này, anh là phái viên của trung đoàn xuống giúp tiểu đoàn tổ chức buổi đồng diễn đẹp đẽ và lịch sử này.
Sau đó, anh chính thức về đại đội 1, tiểu đoàn 39 làm đại đội phó. Vừa về đơn vị, dưới sự chỉ huy của anh, đơn vị kịp thời nổ súng bắn rơi chiếc máy bay Morane ngày 6-11-1948, bắt sống 3 sĩ quan Pháp. Anh lại là người trực tiếp hỏi cung chúng.
6 giờ sáng ngày 3-5-1949, cả tiểu đoàn hành quân ra mặt trận. Đơn vị vừa đến thị xã Tam Kỳ, hai máy bay giặc ập tới ném bom. Rủi thay, bom giặc lại đúng nơi anh.
Anh Nguyễn Hanh Tri, một chi ủy viên, tuổi đời chưa tròn 21, đánh giặc hăng, huấn luyện giỏi, hoạt động thể thao, văn hóa văn nghệ có tài. Một cán bộ đầy tài năng và triển vọng không còn nữa. Nhớ anh, trận Thanh Quýt, bắn hết đạn, bị thương, mặt đầy máu, vẫn không chịu rời trận địa, còn tựa bờ rào chửi Pháp một hồi cho đã, mới chịu trở về.
Di vật anh để lại, có 2 cuốn sổ. Một, của đồng chí Phạm Văn Đồng tặng, một của đồng chí Cao Văn Khánh, Khu trưởng khu 5 tặng, với dòng chữ: “Tặng Nguyễn Hanh Tri chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt, để ghi chép những chiến công sau trận Thanh Quýt”. Và, chiếc áo len đỏ mà anh đem theo bên mình.
Đã hơn 50 năm rồi, rất tiếc là chúng tôi không rõ quê anh ở đâu, chỉ biết là người Thừa Thiên. Gần đây, cuốn sử Tiểu đoàn 39 có viết về anh. May mắn sao có bạn xem được, tìm đến, cho chúng tôi biết rõ quê anh là làng Dương Nỗ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Cha mẹ đều đã qua đời, chỉ còn người anh ở thành phố Hồ Chí Minh.
Sung sướng quá, một quê hương mà chúng tôi bao năm tìm kiếm, giờ đây mới biết. Chúng tôi vội báo thân nhân anh, và đã ra Sở Lao động và Thương binh Thừa Thiên-Huế để làm thủ tục công nhận liệt sĩ cho anh sau 54 năm…
VÕ VĂN MINH