 |
|
PGS.TS Nguyễn Hữu Quang.
|
Kỷ niệm 40 năm ngày Bác mãi đi xa, PGS.TS Nguyễn Hữu Quang – Chủ tịch Hội khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Việt Nam (nguyên Viện trưởng Viện Công nghiệp rừng, nguyên Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp, nguyên Trưởng ban, Bí thư Ban cán sự Đảng ngoài nước, Đại biểu Quốc hội khóa VI) xúc động kể lại những ngày 40 năm trước đây được giao nhiệm vụ xử lý, bảo quản gỗ quý xây dựng Lăng Bác.
Sau khi Bác qua đời, Bộ Chính trị quyết định phải thực hiện tốt nhất nhiệm vụ gìn giữ lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và việc xây dựng Lăng của Người phải bảo đảm chống được các biến động của khí hậu, thời tiết, chiến tranh, thể hiện được tính dân tộc mà hiện đại, thuận tiện cho mọi người đến thăm viếng. Đây là nguyện vọng của toàn dân, toàn Đảng, toàn quân. Nhân dân trong nước, kiều bào nước ngoài gửi thư về bày tỏ nguyện vọng đóng góp xây dựng Lăng Bác. Chỉ từ tháng 5 đến tháng 8 - 1970, Ban tổ chức đợt sáng tác mẫu thiết kế Lăng Bác của Bộ Chính trị đã nhận được 200 phương án và Hội đồng sơ tuyển đã lựa chọn 24 phương án, đem trình bày ở Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Sơn La và Nghệ An. Có tới 745.487 lượt người tới thăm và 34.022 ý kiến tham gia.
Việc xây dựng Lăng Bác đang được triển khai tích cực thì Mỹ ồ ạt cho máy bay đánh phá ác liệt miền Bắc. Mỹ đã thất bại, buộc phải ký Hiệp định Pa-ri. Tối 29-1-1973, Ban phụ trách xây dựng Lăng đã họp truyền đạt chỉ thị của đồng chí Trường Chinh: “Không được phép nghỉ ngơi, không được phép chậm trễ”. Ngày 2-9-1973, Lăng Bác được khởi công xây dựng.
Bộ Chính trị giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành, các địa phương tập trung sức lực, trí tuệ hoàn thành một công trình văn hóa và lịch sử của đất nước. Trong đó nhân dân Nam Bộ, Tây Nguyên, Quảng Nam – Đà Nẵng, Bộ đội Trường Sơn gửi gỗ quý hiếm có hàng trăm năm tuổi về xây dựng Lăng Bác… Bộ Chính trị giao nhiệm vụ cho Tổng cục Lâm nghiệp xử lý gỗ: Chống mối mọt, rạn nứt, cong vênh, co ngót; có độ bền vĩnh cửu cho 200 bộ cánh cửa và những bộ phận có sử dụng gỗ quý. Đồng thời sử dụng tiết kiệm, bảo đảm đưa vào sử dụng đúng thời gian quy định. Đây là vinh dự và là trách nhiệm nặng nề đối với ngành lâm nghiệp Việt Nam nói chung và Viện Công nghiệp rừng non trẻ mới thành lập.
Tổng cục trưởng Lâm nghiệp Hoàng Bửu Đôn giao nhiệm vụ cho Viện Công nghiệp rừng và truyền đạt ý nghĩa, tầm quan trọng của công việc phục vụ công trình lịch sử của đất nước. Lúc ấy ông Nguyễn Hữu Quang phụ trách Viện.
Ông Quang kể lại: Khi đó ông vừa rất tự hào, vừa lo lắng vô cùng với trách nhiệm nặng nề không phải của riêng ông mà của cả ngành lâm nghiệp. Tốt nghiệp tiến sĩ ngành kỹ thuật lâm nghiệp, chuyên ngành chế biến gỗ, Trường đại học Kỹ thuật lâm nghiệp Mát-xcơ-va năm 1964 với đề tài: Nghiên cứu công nghệ sản xuất ván dăm gỗ chịu ẩm, chống sự phá hoại của nấm, mối, mọt trong điều kiện nhiệt đới Việt Nam; qua 10 năm giảng dạy ở Trường đại học Lâm nghiệp, về Tổng cục Lâm nghiệp ông được giao trọng trách xây dựng và phát triển Viện Công nghiệp rừng. Cơ sở vật chất, trang bị công cụ nghiên cứu khoa học chưa có gì. Thiếu đội ngũ cán bộ khoa học lâu năm và có trình độ, nhất là đang trong tình trạng chiến tranh. Nhưng với quyết tâm, với tấm lòng với Bác Hồ vĩ đại, ông mạnh dạn cùng lãnh đạo, cán bộ khoa học các bộ môn của Viện xây dựng đề án, từng bước triển khai việc xử lý gỗ, báo cáo Tổng cục và báo cáo Ban chỉ huy xây dựng Lăng (Công trường đặc biệt 75-808). Nhóm bảo quản chống mối, mọt do ông Nguyễn Chí Thanh phụ trách và ông Như Cương cộng sự. Nhóm chế biến gỗ do ông Nguyễn Hữu Quang phụ trách và ông Trần Thủy Ký cộng sự. Bộ môn Cơ lý do ông Nguyễn Đình Hưng phụ trách. Ông Nguyễn Hữu Quang điều hành, chỉ đạo và chịu trách nhiệm trước Tổng cục Lâm nghiệp. Viện nhanh chóng lấy mẫu của 190 mẫu gỗ gụ, 76 mẫu gỗ trắc, 24 mẫu gỗ son, 14 mẫu gỗ giổi, 11 mẫu gỗ muồng đen, 4 mẫu gỗ lát hoa, 3 mẫu gỗ kim giao, 2 mẫu gỗ lim xanh, 3 mẫu gỗ mun và hơn 100 mẫu các loại gỗ quý khác.
Những ngày ấy, cán bộ của Viện làm việc hết mình, với tình cảm hiến dâng sức lực, trí tuệ cho công trình Lăng Bác. Cho dù thiếu thốn, khó khăn, vất vả, họ đã thức thâu đêm đọc các tài liệu nước ngoài, kinh nghiệm bảo quản xử lý gỗ, kinh nghiệm cổ truyền trong dân, của các cơ sở sản xuất đồ gỗ. Về cơ sở lý thuyết, Viện đã có báo cáo tổng quát: Vấn đề sấy gỗ trong công trình Lăng Bác, Xây dựng quy trình sấy gỗ; thử nghiệm tính chất vật lý quan trọng của ba loại gỗ trắc, mun, gụ; thử nghiệm tính chất vật lý của một số loại gỗ tự nhiên từ miền Nam gửi ra… Đó là công việc thầm lặng không mấy ai biết đến của các cán bộ khoa học lâm nghiệp Việt Nam.
Sau những đóng góp cho công trình lịch sử xây dựng Lăng Bác, những cán bộ khoa học của Viện đã trưởng thành, trở thành cán bộ đầu ngành có đóng góp đáng ghi nhận của ngành lâm nghiệp như ông Nguyễn Chí Thanh, ông Nguyễn Đình Hưng, ông Như Cương, ông Trần Thủy Ký… và nhiều cán bộ của Viện Công nghiệp rừng.
Bài và ảnh: TS PHÍ VĂN KỶ