Là một bộ phận của phong trào cộng sản quốc tế trên hành trình hoạt động 80 năm của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những đóng góp to lớn với Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và phong trào cộng sản quốc tế. Có thể nhận rõ ở ba thời điểm cụ thể sau đây.

1. Đóng góp về vấn đề dân tộc, thuộc địa thời kì đấu tranh giành chính quyền

Ra đời và lãnh đạo toàn dân tộc đấu tranh giành chính quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những đóng góp to lớn vào vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển lí luận Mác – Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. 

Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã sớm nhận rõ cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào tốt hơn con đường cách mạng vô sản, nhận rõ trong thế giới hiện tại chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều nhưng chỉ có Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là chân chính nhất, cách mạng nhất và chỉ rõ cách mạng vô sản cũng như cách mạng giải phóng dân tộc muốn giành thắng lợi phải có Đảng được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin lãnh đạo. Đây là những vấn đề căn cốt của Hồ Chí Minh và là những đóng góp có giá trị làm phong phú, khẳng định tính khoa học và cách mạng của lí luận Mác - Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Nghiên cứu kĩ nguyên lí và vận dụng vào thuộc địa, Hồ Chí Minh còn phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác về khả năng cách mạng thuộc địa thắng trước chính quốc - điều mà C.Mác - Ăng-ghen - Lê-nin chưa dự báo… Cách mạng Tháng Tám - cuộc cách mạng giải phóng dân tộc duy nhất do đảng cộng sản lãnh đạo giành được thắng lợi trong lịch sử thế kỉ thứ XX là một minh chứng. Đây chính là lí do lí giải vì sao Đảng Cộng sản Việt Nam  đã sớm nhận rõ việc vận dụng một cách máy móc, giáo điều, đường lối tả khuynh của Quốc tế Cộng sản vào cao trào công nông 1930-1931 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh đã trực tiếp chỉ ra đường lối tả khuynh trong phong trào cộng sản cần khắc phục. 

Nhân loại tiến bộ coi thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã mở đầu trào lưu phi thực dân hóa trên phạm vi toàn thế giới.

2. Đóng góp trong thời kì chiến tranh lạnh

Trong cuộc đấu tranh giữ và bảo vệ chính quyền, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong 30 năm chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ trách nhiệm đứng ở tuyến đầu của phe xã hội chủ nghĩa, phối hợp với các Đảng Cộng sản, công nhân trong phong trào cộng sản quốc tế, kiên trì, dũng cảm, độc lập, sáng tạo đánh bại hai đế quốc giàu mạnh, tiêu diệt Chủ nghĩa thực dân cũ, đánh bại một bước Chủ nghĩa thực dân mới, tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa giành độc lập dân tộc, làm cho thế kỉ XX là thế kỉ toàn thắng của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, có thể thấy rõ ở những điểm chính sau đây: Thứ nhất  là nghệ thuật biết thắng từng bước, biết mở đầu và kết thúc chiến tranh một cách khoa học. Chiến đấu chống các kẻ thù xâm lược rất mạnh bên cạnh có đường lối toàn dân, toàn diện lâu dài dựa vào sức mình là chính, có quyết tâm của toàn dân tộc, còn phải biết mở đầu và kết thúc đúng, biết đánh lùi từng bước, đánh đổ từng bộ phận tiến tới giành thắng lợi cuối cùng. Đây có thể xem như là quy luật của chiến tranh giải phóng dân tộc. Thứ hai là nghệ thuật chiến tranh nhân dân vừa kháng chiến vừa kiến quốc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp xây dựng lực lượng chính trị, quân sự, kết hợp tiến công và nổi dậy, kết hợp khởi nghĩa vũ trang với chiến tranh cách mạng. Thực tiễn cuộc chiến đấu chống Chủ nghĩa thực dân cũ và Chủ nghĩa thực dân mới khẳng định đường lối chiến tranh nhân dân Việt Nam, bổ sung cho kho tàng của Chủ nghĩa Mác trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng.

Trên con đường phát triển định hướng lên CNXH, bằng thái độ tự chỉ trích bôn-sê-vích, Đảng đã từng bước nhận rõ những sai lầm thiếu sót từ nhận thức thể hiện trong tư duy lí luận, tư duy kinh tế, về tổ chức cán bộ trong thời kì quá độ để đề ra lộ trình đúng qua quá trình tìm đường đổi mới.

3. Đóng góp  từ sau khi kết thúc chiến tranh lạnh

Trước khi Liên Xô tan rã, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm nhận thấy những sai lầm trong mô hình xây dựng Chủ nghĩa xã hội kiểu cũ. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ VI khoá IV năm 1979 Đảng đã nêu ra một số chủ trương quan trọng nhằm giải phóng các năng lực sản xuất, làm tiền đề cho công cuộc đổi mới. Toàn Đảng tập trung tâm lực, trí lực tìm đường đổi mới và những mục tiêu của dân tộc và thời đại.

Sau kịch biến ở Đông Âu và Liên Xô, Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một vẫn kiên trì đẩy mạnh hoạt động trên nhiều lĩnh vực với các Đảng cầm quyền như Đảng Cộng sản Trung Quốc, Cu-ba, Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Đảng Lao động Triều Tiên và các Đảng Cộng sản và công nhân trên thế giới. Việc xem xét một cách thận trọng trên quan điểm mác-xít các vấn đề lí luận đối chiếu với các diễn biến thực tế của lịch sử thế giới để điều chỉnh, để bổ sung trên con đường phát triển. Các vấn đề lớn như lí luận về thời kì quá độ, bước đi của công cuộc xây dựng CNXH, toàn cầu hóa với hội nhập... được đặt ra và luận giải.

Nhiều cuộc hội thảo khoa học giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc với các chủ đề khác nhau đã được tiến hành, điển hình là ba cuộc hội thảo về chủ đề "Chủ nghĩa xã hội-kinh nghiệm của Việt Nam và kinh nghiệm của Trung Quốc", về “Chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường”, về “Xây dựng Đảng cầm quyền”. Qua hội thảo, những vấn đề nhận thức về thời kì quá độ ngày càng rõ hơn. Những biểu hiện chủ quan duy ý chí, bất chấp quy luật, đốt cháy giai đoạn được khắc phục. Quá độ lên CNXH là không giống nhau giữa các nước. Thực tiễn quá trình khắc phục những sai lầm đã giúp cho Đảng nhận rõ con đường xây dựng CNXH thông qua kinh tế thị trường XHCN. Đảng đã chủ trương tiếp tục xây dựng CNXH, Chủ nghĩa Cộng sản thông qua nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đặc biệt khắc phục nhận thức xơ cứng, ấu trĩ tồn tại nhiều năm trước đây coi kinh tế thị trường là của Chủ nghĩa tư bản. Công cuộc xây dựng CNXH trong thực tiễn cải cách mở cửa và đổi mới đã khẳng định chỉ có thể giành thắng lợi khi có sự lãnh đạo của Đảng được vũ trang bằng Chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Những quan ngại tồn tại trong tư duy chính trị về vấn đề đảng cầm quyền, đặc biệt khi các thế lực thù địch lên án độc quyền lãnh đạo của Đảng đã được nhận thức và làm rõ.

Tuy nhiên những năm gầy đây, công cuộc cải cách, đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại đứng trước những khó khăn mới, do ảnh hưởng của vấn đề toàn cầu hóa kinh tế, vấn đề điều chỉnh chiến lược các nước lớn do chủ nghĩa khủng bố tác động đến và công cuộc cải cách, đổi mới đi vào chiều sâu, làm bộc lộ những mặt non yếu đã tồn tại từ các giai đoạn trước. Trên lĩnh vực lí luận, quan niệm về Chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên Chủ nghĩa xã hội còn có một số vấn đề chưa được luận giải thật rõ ràng. Nhiều vấn đề thực tiễn nảy sinh nhưng hướng giải quyết chưa rõ. Mặc dù vậy, trong mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với Đảng Cộng sản ở các nước xã hội Chủ nghĩa còn lại vẫn phát triển về nhiều mặt, góp phần làm cho các nước xã hội chủ nghĩa còn lại vượt qua thời điểm khó khăn nhất, trụ lại đang tiến lên và vẫn là một lực lượng có ảnh hưởng về nhiều mặt trong cộng đồng quốc tế.

Quá trình ra đời và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam  luôn gắn bó với hoạt động  chung của phong trào cộng sản quốc tế. Tám mươi năm đã qua chứng minh Đảng ta đã có những đóng góp to lớn vào xây dựng, củng cố phong trào cộng sản, bảo vệ và phát triển học thuyết Mác, chứng minh sức sống của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin trên con đường phát triển của dân tộc và của nhân loại. Việc giữ vững ổn định chính trị, giữ vững định hướng tư tưởng trung thành với lí tưởng Mác - Lê-nin không chệch hướng và miễn dịch với các tư tưởng độc hại của Chủ nghĩa đế quốc trong “Diễn biến hòa bình” khẳng định những đóng góp của Đảng ta với Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và phong trào cộng sản quốc tế trên hành trình đi đến độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của dân tộc và nhân loại.

PGS.TS. TRÌNH MƯU