Tổng Kiểm toán nhà nước Ngô Văn Tuấn vừa ký ban hành Hướng dẫn về bằng chứng kiểm toán, gồm 3 chương, 10 điều, 3 phụ lục. Hướng dẫn này quy định về bằng chứng kiểm toán trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước; được áp dụng đối với các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước và các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước.
Việc ban hành Hướng dẫn về bằng chứng kiểm toán nhằm cụ thể hơn một số quy định của Chuẩn mực Kiểm toán nhà nước, gắn với các lĩnh vực kiểm toán của Kiểm toán nhà nước; đồng thời giúp kiểm toán viên nhà nước thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán nhằm thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra đánh giá, ý kiến kiểm toán và kiến nghị kiểm toán.
Theo Hướng dẫn, bằng chứng kiểm toán được hiểu là tài liệu, thông tin do kiểm toán viên nhà nước thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán, làm cơ sở cho việc đánh giá, xác nhận và kiến nghị kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán gồm những tài liệu, thông tin chứa đựng trong các tài liệu, sổ kế toán, báo cáo tài chính và những tài liệu, thông tin khác.
Hướng dẫn quy định, tài liệu, thông tin được sử dụng làm bằng chứng kiểm toán, gồm, bằng chứng kiểm toán liên quan đến số liệu, thông tin là căn cứ kiểm toán được trình bày tại báo cáo kiểm toán, biên bản kiểm toán. Đây là các tài liệu, thông tin cần thiết do kiểm toán viên nhà nước thu thập được liên quan đến số liệu, thông tin trình bày tại báo cáo kiểm toán, biên bản kiểm toán và dựa trên các tài liệu, thông tin này, kiểm toán viên nhà nước đưa ra đánh giá và ý kiến kiểm toán.
 |
|
Theo Hướng dẫn, kiểm toán viên nhà nước phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp nhằm bảo đảm mức độ tin cậy hợp lý và giảm rủi ro kiểm toán xuống mức chấp nhận được. Ảnh: THÙY ANH |
Hướng dẫn nhấn mạnh, tính đủ và thích hợp của bằng chứng kiểm toán có mối liên hệ tương quan với nhau. Số lượng của bằng chứng kiểm toán cần thu thập chịu ảnh hưởng bởi chất lượng bằng chứng kiểm toán và chất lượng bằng chứng kiểm toán quyết định số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập. Chất lượng của mỗi bằng chứng kiểm toán càng cao thì có thể cần ít bằng chứng kiểm toán hơn. Tuy nhiên, nhiều bằng chứng kiểm toán được thu thập không có nghĩa là chất lượng bằng chứng kiểm toán được bảo đảm.
Theo Hướng dẫn, kiểm toán viên nhà nước phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để đạt được sự đảm bảo hợp lý, nhằm giảm rủi ro kiểm toán xuống một mức độ thấp có thể chấp nhận được.
HỒNG ANH