*Sáng 1-3, giá cà phê tại Tây Nguyên đồng loạt giảm 800 – 1.000 đồng/kg so với hôm trước.
Đắk Lắk, Đắk Nông và Gia Lai hiện được thu mua phổ biến ở mức 96.000 đồng/kg, giảm 1.000 đồng/kg nhưng vẫn thuộc nhóm cao nhất cả nước. Lâm Đồng giảm 800 đồng/kg, còn 95.500 đồng/kg.
Dù vậy, mặt bằng giá hiện nay vẫn cao hơn đáng kể so với cùng kỳ nhiều năm trước. Đáng chú ý, người trồng cà phê Việt Nam không bán tháo theo đà giảm của thị trường quốc tế.
Nhiều nông dân tiếp tục “găm hàng” với kỳ vọng giá sẽ phục hồi khi thị trường hấp thụ hết áp lực tồn kho ngắn hạn. Lượng hàng bán ra nhỏ giọt đang góp phần tạo thế giằng co cung – cầu, hạn chế đà giảm sâu của giá nội địa.
 |
| Ảnh minh họa: TTXVN |
*Giá lúa gạo hôm nay (1-3) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động. Thị trường giá gạo trong nước và xuất khẩu đi ngang, lúa tươi vững giá.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mốc 6.500 - 6.700 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 6.500 - 6.700 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.800 - 6.000 đồng/kg; lúa OM 4218 dao động 6.200 - 6.400 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg.
Tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán ít, lúa tươi các loại vững giá. Tại Tây Ninh, nông dân chào bán giá vững, song thương lai mua ít, cho giá mua thấp. Tại Cần Thơ lúa thơm chốt mua ít, giá ổn định. Tại An Giang, lúa Japonica giao dịch đều hơn các loại khác, giá vững. Tại Đồng Tháp, lúa xa ngày cắt thương lái mua chậm, gần ngày cắt khá hơn, giá ít biến động.
Tương tự với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.250 - 9.350 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 7.950 - 8.050 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.000 - 8.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.900 - 9.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.600 - 7.770 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 dao động ở mức 8.800 - 8.900 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, gạo các loại thơm dẻo neo cao. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan (Trung Quốc) 20.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mốc 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
* Bước sang phiên giao dịch đầu tháng 3, thị trường hồ tiêu nội địa quay đầu giảm sau những phiên tăng nhẹ trước đó. Mặt bằng giá hiện phổ biến ở mức 147.500 – 148.000 đồng/kg, thấp hơn đáng kể so với ngưỡng 150.000 đồng/kg từng thiết lập trước đó.
Tại các vùng trồng trọng điểm, Đắk Lắk và Bà Rịa – Vũng Tàu ghi nhận mức giảm mạnh nhất 1.500 đồng/kg, đưa giá thu mua về 148.000 đồng/kg. Đắk Nông (Lâm Đồng) giảm 1.000 đồng/kg, giao dịch quanh 148.000 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng điều chỉnh giảm 1.000 đồng/kg, xuống mức 147.500 đồng/kg, hiện là địa phương có giá thấp nhất trong nhóm khảo sát.
Diễn biến trồi sụt liên tiếp những ngày gần đây cho thấy cung – cầu vẫn trong trạng thái giằng co, đặc biệt khi vụ thu hoạch chính đang bước vào cao điểm. Nguồn hàng mới ra thị trường gia tăng khiến lực bán từ nông dân mạnh hơn, tạo áp lực điều chỉnh ngắn hạn.
Tuy nhiên, nếu so với giai đoạn giá xuống thấp trong các năm 2020 – 2021, mặt bằng hiện tại vẫn ở mức cao, giúp nhiều hộ trồng hồ tiêu duy trì lợi nhuận tích cực. Điều này cũng góp phần hạn chế nguy cơ giảm sâu trong bối cảnh nhu cầu xuất khẩu vẫn duy trì ổn định.