QĐND- Ngày 23-1-2014, Bộ Tư pháp, Tòa án Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch 04/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn thực hiện trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ khi có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Trong đó đã xác định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong việc xem xét trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ. Cụ thể là, theo dõi, chỉ đạo Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ; phối hợp với các cơ quan liên quan xem xét trách nhiệm của người thi hành công vụ đã gây thiệt hại do cơ quan đó quản lý hoặc đã chuyển công tác đến cơ quan khác; giải quyết khiếu nại; tham gia tố tụng; yêu cầu thi hành án…. Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan có liên quan trong việc xem xét trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ: Cử đại diện tham gia hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả; đôn đốc người có trách nhiệm hoàn trả theo quyết định hoàn trả đã có hiệu lực pháp luật…

Thông tư còn quy định trình tự, thủ tục xem xét trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ. Đó là, thành phần, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ; cách thức, phương pháp xác định lỗi của người thi hành công vụ để làm căn cứ xác định mức hoàn trả của người thi hành công vụ. Xác định mức hoàn trả của người thi hành công vụ. Theo đó, trường hợp người thi hành công vụ có lỗi vô ý thì mức hoàn trả sẽ là: Không quá 1 tháng lương nếu mức bồi thường nhỏ hơn 30 triệu đồng; từ 1 đến 2 tháng lương nếu mức bồi thường từ 30 đến 100 triệu đồng; từ 1 đến 3 tháng lương nếu mức bồi thường lớn hơn 100 triệu đồng.

Trường hợp người thi hành công vụ có lỗi cố ý nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì mức hoàn trả sẽ là: Từ 3 đến 12 tháng lương nếu mức bồi thường nhỏ hơn 100 triệu đồng; từ 12 đến 24 tháng lương nếu mức bồi thường từ 100 đến 500 triệu đồng; từ 24 đến 36 tháng lương nếu mức bồi thường lớn hơn 500 triệu đồng.

Lương được tính là lương và các khoản phụ cấp khác (nếu có) của người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả tại thời điểm quyết định việc hoàn trả.

Ngoài ra, trong Thông tư còn quy định một số trường hợp cụ thể về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ như: Người có trách nhiệm hoàn trả đã nghỉ hưu, nếu đã được thông báo đến lần thứ ba về việc hoàn trả mà không thực hiện nghĩa vụ thì sẽ bị trừ dần vào lương hằng tháng theo mức từ 10% đến 30%. Người có trách nhiệm hoàn trả đã chuyển công tác sang cơ quan khác trong bộ máy nhà nước nếu đã được thông báo đến lần thứ ba về việc hoàn trả mà không thực hiện nghĩa vụ thì cơ quan có trách nhiệm bồi thưỡng sẽ phối hợp với cơ quan nhà nước đang quản lý người có nghĩa vụ hoàn trả thu hồi tiền hoàn trả bằng việc trừ dần vào lương hằng tháng theo mức từ 10% đến 30%. Người có trách nhiệm hoàn trả không còn làm việc trong các cơ quan nhà nước nếu đã được thông báo đến lần thứ ba về việc hoàn trả mà không thực hiện nghĩa vụ thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường sẽ phối hợp với doanh nghiệp, tổ chức nơi người đó đang làm việc thu hồi bằng việc trừ dần vào lương hằng tháng theo mức từ 10% đến 30%. Nếu người có trách nhiệm hoàn trả đã qua đời thì: Trường hợp có di sản thì người thừa kế di sản của người đó thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về thừa kế. Trường hợp không có di sản thì miễn thực hiện trách nhiệm hoàn trả. Trường hợp người có trách nhiệm chết trước khi có quyết định hoàn trả thì không xem xét trách nhiệm hoàn trả của người đó.

Thông tư có hiệu lực từ ngày 8-3-2014.

ANH THƯ